10/11/2012

Khoai lang Việt Nam từ giống tốt đến thương hiệu



CÂY LƯƠNG THỰC.  Tiến sĩ Trần Đình Lâm, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Việt Nam và Đông Nam Á, Đại học Khoa học Xã hội và Nhân Văn, Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh hỏi: " Việt Nam mình hiện có tổ chức nào hướng dẫn cho nông dân trồng khoai lang để có thể đạt chất lượng
công nhận hữu cơ quốc tế (International Organic Accreditation)?

Tiến sĩ Hoàng Kim giảng viên chính Kh
oa Nông học Đại học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh tr lời: Hiện nay thì chưa, nhưng chúng ta đã có một số địa chỉ xanh tiềm năng trồng khoai lang Nhật đạt chất lượng cao. Giống khoai khoai lang ở Việt Nam  đã được  chuyên gia nông nghiệp Việt Nam hợp tác với chuyên gia Nhật và chuyên gia CIP (Trung tâm Khoai tây Quốc tế) đã thực hiện từ nhiều năm qua việc tuyển chọn và phát triển các giống khoai lang tốt  phổ biến rộng rãi trong sản xuất hiện nay như khoai Nhật đỏ HL518, Nhật tím HL419, Murasa Kimasari, Nhật vàng Kokey 14, Nhật trắng HL284. Chúng ta đã có những vùng khoai lang ngon như khoai Nhật tím ờ Bình Minh, Bình Tân của tỉnh Vĩnh Long, khoai Trùi Sa Trà Đõa ở Thăng Bình của tỉnh Quảng Nam, khoai Lệ Cần ở Đăk Đoa của tỉnh Gia Lai, khoai Bí Mật ở Lâm Hà, Đà Lạt của tỉnh Lâm Đồng, khoai Nhật đỏ HL518 ở Tuy Đức và Đăk Song,của tỉnh Đăk Nông. Đặc biệt là Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất tỉnh Kiên Giang với doanh nghiệp của ông Đỗ Quý Hạo. trồng khoai lang rất thành công.. 


Liên ngành nghiên cứu về nghèo đói dựa trên phương pháp tiếpcận năng lực (Interdisciplinary Study on Poverty based  on Capability Approach) là chủ đề hội thảo mới đây tại trường Đại học Khoa học Xã hội Nhân văn Thành phố Hồ Chí Minh.  Tiến sĩ Kim Ki Hueng  Trường Đại học Tokyo Nhật Bản đã trình bày báo cáo "Nông nghiệp Hữu cơ ở Nhật Bản Hàn Quốc và Việt Nam" (Organic Agriculture in Japan, Korea and Việt Nam ) và GS Ikemoto Yukio đã trao đổi về " Mối quan hệ giữa Nhật Bản, Trung Quốc và Hàn Quốc hiện nay nhìn từ góc độ nghiên cứu nông nghiệp sinh thái liên ngành". Công trình nghiên cứu đã giới thiệu điển hình  nông trại Nico Yasai tại Đắc Lắc do một thanh niên người Nhật Bản sản xuất rau theo mô hình nông nghiệp sinh thái tại  Nhật Bản. Đây là mô hình canh tác hữu cơ không dùng phân bón hóa học và không phun thuốc trừ sâu bệnh để đảm bảo tính an toàn cho thực phẩm. Kiểu canh tác này  xuất hiện từ những năm 1970 tại Nhật Bản và trở thành trào lưu thịnh hành ở nước này vào những năm 80. Đến những năm 90, chính phủ Nhật Bản bắt đầu có quy chế kiểm tra và cấp giấy chứng nhận cho những sản phẩm nông nghiệp sinh thái đạt chuẩn (JAS – Japan Agricultural Standard). Thị trường rộng lớn của nông nghiệp sinh thái hiện đại đang hướng đến những sản phẩm thân thiện môi trường và sức khỏe thông qua những nông phẩm được công nhận và dán nhãn JAS với sự  liên kết giữa người sản xuất và tiêu dùng  chia sẻ thông tin, gắn bó và ủng hộ lẫn nhau để có được mối quan hệ cung cầu ổn định và lâu dài.

Khoai lang Việt Nam vốn đã có tiền đề hợp tác chọn tạo
giống và nghiên cứu biện pháp kỹ thuật canh tác khoai lang thích hợp vùng sinh thái kết nối với Nhật Bản và CIP trong nhiều năm, nay hoàn toàn thuận lợi để phát triển theo hướng xây dựng thương hiệu đạt sản phẩm chất lượng của công nhận hữu cơ quốc tế . Từ đó sẽ có thể hình thành sự khởi đầu tốt đẹp "Khoai lang Việt Nam từ giống tốt đến thương hiệu" .

Xem thêm:

Giống khoai lang ở Việt Nam

FOODCROPS. Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới. Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam. Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang phổ biến trong sản xuất hiện nay Hoàng Long, Hưng Lộc 4, HL518 (Nhật đỏ), Kokey 14 (Nhật vàng), HL491 (Nhật tím), Murasa Kimasari (Nhật tím 1), HL284 (Nhật trắng), KB1
Nguồn gen giống khoai lang trên thế giới
Hầu hết những nước trồng nhiều khoai lang trên thế giới đều có bộ sưu tập nguồn gen giống khoai lang. Nơi lưu giữ nguồn gen khoai lang lớn nhất toàn cầu là Trung tâm Khoai tây Quốc tế (Centro Internacional de la Papa – CIP) với tổng số 7007 mẫu giống khoai lang được duy trì năm 2005. Trong số này có 5.920 mẫu giống khoai lang trồng (Ipomoea batatas) và 1087 mẫu giống khoai lang loài hoang dại (Ipomoea trifida và các loài Ipomoea khác). Việc duy trì nguồn gen ở CIP được thực hiện trong ống nghiệm, trên đồng ruộng, bảo quản bằng hạt và được đánh giá theo tiêu chuẩn quốc tế.

Khoai lang Trung Quốc cho năng suất cao, chịu lạnh nhưng chất lượng không ngon so với khoai lang của Nhật, Mỹ khi trồng ở Việt Nam.

Khoai lang Mỹ nổi tiếng về chất lượng cao, phổ biến các giống khoai lang có ruột củ màu cam đậm, dẽo và có hương vị thơm để tiêu thụ tươi như một loại rau xanh cao cấp và dùng trong công nghiệp thực phẩm. Mỹ hiện đang tiếp tục thực hiện các nghiên cứu chọn giống khoai lang chất lượng cao giàu protein, vitamin A và có hương vị thơm; ứng dụng công nghệ gen, công nghệ tế bào trong tạo giống.

Khoai lang Nhật cũng nổi tiếng về chất lượng cao với hướng chọn tạo giống khoai lang để sử dụng lá làm rau xanh, làm nước sinh tố và thực phẩm có màu tím hoặc màu cam đậm tự nhiên. Nhược điểm khoai lang Nhật khi trồng ở Việt Nam là thời gian sinh trưởng dài trên 115 ngày.(Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 2006)

Nguồn gen giống khoai lang ở Việt Nam


Nguồn gen giống khoai lang Việt Nam chủ yếu được thu thập, đánh giá và bảo tồn tại Trung tâm Tài nguyên Thực vật, thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam với 528 mẫu giống đã được tư liệu hoá (trong đó có 344 mẫu do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chuyển đến) Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm (FCRI) có 118 mẫu giống, Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc hiện có 78 mẫu giống.. Trường Đại Học Nông Lâm thành phố Hồ Chí Minh có 30 mẫu giống. (Bảng 4.1).


Tại các tỉnh phía Bắc, các giống khoai lang trồng phổ biến hiện có: Hoàng Long, KB1, K51, Tự Nhiên. Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm (FCRI) và Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam (VASI) trong 22 năm (1981-2003), đã tuyển chọn và giới thiệu 15 giống khoai lang tốt theo ba hướng chính: 1) Nhóm giống khoai lang năng suất củ tươi cao, chịu lạnh, ngắn ngày, thích hợp vụ đông, gồm K1, K2, K3, K4, K7, K8, VX37-1, Cực nhanh. Những giống này chủ yếu được nhập nội từ CIP, Philippines, Trung Quốc, Liên Xô (cũ) trong giai đoạn 1980-1986 và tuyển chọn để tăng vụ khoai lang đông. 2) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, nhiều dây lá thích hợp chăn nuôi, gồm KL1, KL5, K51. Các giống này phát triển ở giai đoạn 1986-2000 trong chương trình hợp tác với CIP. 3) Nhóm giống khoai lang năng suất củ cao, phẩm chất ngon. gồm việc phục tráng và chọn lọc giống khoai lang Hoàng Long, Chiêm Dâu (Vũ Tuyên Hoàng, Mai Thạch Hoành 1986, 1992), Tự Nhiên (Trương Văn Hộ và ctv, 1999); tuyển chọn và phát triển giống khoai lang KB1 (Nguyễn Thế Yên, 2003).

Ở các tỉnh phía Nam các giống khoai lang hiên trồng phổ biến là HL518 (Nhật đỏ), HL491 (Nhật tím), Murasa kimasari (Nhật tím) Kokey 14 (Nhật vàng), HL497 (Nhật cam), HL4, Hoàng Long, Chiêm Dâu, Trùi Sa, Bí Đà Lạt, Dương Ngọc, Tàu Nghẹn, Trùi Sa (Cần Sa), Khoai Sữa, Khoai Gạo.

Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc (HARC) và Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh (NLU) trong 22 năm (1981-2003) đã tuyển chọn và giới thiệu 7 giống khoai lang có năng suất củ cao, phẩm chất ngon, thích hợp tiêu thụ tươi gồm Hoàng Long, Chiêm Dâu, Gạo, Bí Đà Lạt (1981), HL4 (1987), HL491, HL518 (1997). Các giống khoai lang chất lượng cao có dạng củ đẹp thuôn láng, được thị trường ưa chuộng có HL518, HL491, Kokey 14, Murasa kimasari..

Những năm gần đây, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh cũng đánh giá và tuyển chọn 24 giống khoai lang khảo nghiệm toàn cầu trong chương trình hợp tác với CIP và khảo sát các giống khoai lang nhiều dây lá , năng suất bột cao cho hướng chế biến cồn trong chương trình hợp tác với công ty Technova và công ty Toyota Nhật Bản (Hoàng Kim 2008).

Bảng 1: Nguồn gen giống khoai lang đã được đánh giá tại HARC và NLU (1993-2009)

Những giống khoai lang phẩm chất ngon đang được đánh giá và tuyển chọn trong đề tài “Thu thập, khảo sát, so sánh và phục tráng giống khoai lang tại huyện Xuân Lộc tỉnh Đồng Nai 2008-2010”. Đây là nội dung hợp tác giữa Sở Khoa học Công nghệ Đồng Nai, Viện Sinh học Nhiệt đới, Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh và Phòng Nông nghiệp Xuân Lôc. Kết quả bước đầu có HL518, HL491, Kokey 14, HL284, HL536 (CIP 083-14), HL574 (Cao sản), HL585, HL597 (Hoàng Kim, Trần Ngọc Thùy, Trịnh Việt Nga, Nguyễn Thị Ninh 2009)

4.3 Nguồn gốc và đặc tính chủ yếu của một số giống khoai lang



Giống khoai lang HOÀNG LONG


Hoàng Long là giống khoai lang phổ biến ở Việt Nam. Nguồn gốc Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam năm 1968. Giống do Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh tuyển chọn và giới thiệu (Hoàng Kim, Nguyễn Thị Thủy, 1981). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1981. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 15 – 27 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng sẫm, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.



Khoai Hoàng Long nơi Yên Tử

Giống khoai lang HƯNG LỘC 4 (HL4)
HL4 là giống khoai lang phổ biến ở vùng Đông Nam Bộ. Nguồn gốc Việt Nam. HL4 là giống lai [khoai Gạo x Bí Dalat] x Tai Nung 57 do Trung tâm Nghiên cứu Thực Nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc tạo chọn và giới thiệu (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1987). Bộ Nông nghiệp và PTNT công nhận giống năm 1987. Thời gian sinh trưởng 85-95 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 33 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-30%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đẹp, dây xanh phủ luống gọn, mức độ nhiễm sùng trung bình, nhiễm nhẹ sâu đục dây.


Giống khoai lang HL518 (Nhật đỏ)


Nguồn gốc: Giống HL518 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Kokey 14 polycross nguồn gốc Nhật Bản = CIP92031 = HL518 (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997; hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị.

Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 17-32 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ đậm, thịt củ màu cam đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang KOKEY14 (Nhật vàng)

Nguồn gốc: Giống Kokey 14 có nguồn gốc Nhật Bản do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1997 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống được tuyển chọn và giới thiệu năm 2002 (Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003), hiện là giống phổ biến trong sản xuất ở các tỉnh Nam Bộ và bán nhiều tại các siêu thị.
Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 110-120 ngày. Năng suất củ tươi: 15-34. tấn/ha; tỷ lệ chất khô 29-31%. chất lượng củ luộc ngon, vỏ củ màu đỏ, thịt củ màu vàng cam, dạng củ đều đẹp, dây xanh, nhiễm nhẹ sùng (Cylas formicariu) và sâu đục dây (Omphisia anastomosalis) virus xoăn lá (feathery mottle virus), bệnh đốm lá (leaf spot: Cercospora sp), bệnh ghẻ (scab) và hà khoai lang (Condorus sp).

Giống khoai langHL491 (Nhật tím)

Giống HL491 do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc chọn tạo và giới thiệu từ tổ hợp Murasa Kimasari polycross nguồn gốc Nhật Bản = CN76-2 CIP/AVRDC (Nguyễn Thị Thủy, Hoàng Kim 1997). Giống đã được Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn công nhận giống năm 1997, hiện phổ biến trong sản xuất phía Nam và bán nhiều ở các siêu thị..

Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 95 -110 ngày. Năng suất củ tươi: 15-27 tấn/ha, tỷ lệ chất khô 27- 31%. chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu tía, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây xanh tím, nhiễm nhẹ sùng, hà và sâu đục dây.

Giống khoai lang MURASAKIMASARI (Nhật tím 1)


Nguồn gốc: Giống Murasa Kimasari có nguồn gốc Nhật Bản, do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội năm 1994 từ Công ty FSA (Bảng 1). Giống tuyển chọn và giới thiệu năm 2002.(Hoang Kim, Nguyen Thi Thuy 2003) hiện được trồng ở vùng đồng bằng sông Cửu Long, bán tại các chợ đầu mối và siêu thị.
Đặc tính nông học chủ yếu: Thời gian sinh trưởng: 105-110 ngày. Năng suất củ tươi: 10-22. tỷ lệ chất khô 27-30%. chất lượng củ luộc khá ngon, vỏ củ màu tím sẫm, thịt củ màu tím đậm, dạng củ đều đẹp, dây tím xanh, nhiễm nhẹ sùng và sâu đục dây.

Giống khoai lang HL284 (Nhật trắng)


HL284 thuộc nhóm giống khoai lang tỷ lệ chất khô cao, nhiều bột. Nguồn gốc AVRDC (Đài Loan) /Japan. Giống do Trung tâm Nghiên cứu Thực nghiệm Nông nghiệp Hưng Lộc nhập nội, tuyển chọn và đề nghị khảo nghiệm năm 2000. Thời gian sinh trưởng 90-105 ngày. Năng suất củ tươi 18 – 29 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 28-31%, chất lượng củ luộc khá, độ bột nhiều hơn độ dẽo, vỏ củ màu trắng, thịt củ màu trắng kem, dạng củ đều, dây xanh, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

Giống khoai lang KB1


KB1 là giống khoai lang hiện đang phát triển ở vùng đồng bằng sông Hồng. Giống do Viện Cây Lương thực Cây Thực phẩm tuyển chọn và giới thiệu (Vũ Văn Chè, 2004). Bộ Nông nghiệp và PTNT đã công nhận giống năm 2004. Thời gian sinh trưởng 95 -100 ngày. Năng suất củ tươi 22 – 32 tấn/ ha, tỷ lệ chất khô 27-29%, chất lượng củ luộc khá, vỏ củ màu hồng cam, thịt củ màu cam đậm, dạng củ hơi tròn, dây xanh, ngọn tím, nhiễm sùng và sâu đục dây trung bình.

TS. Hoàng Kim
Trường Đại học Nông Lâm TP. Hồ Chí Minh

Nguồn: FOODCROPS.VN Giống khoai lang ở Việt Nam , 16 April 2008 04:36, Hoang Kim
http://foodcrops.blogspot.com/2010/01/giong-khoai-lang-o-viet-nam.html


Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất


Kênh xáng là nguồn nước tưới cho những cánh đồng ở Hòn Ðất.  
 
Xứ Hòn là tên gọi khác của huyện Hòn Ðất (Kiên Giang), một huyện nằm trọn trong vùng ngập lũ Tứ giác Long Xuyên. Ở đây có ba hòn núi nổi lên giữa đồng bằng là Hòn Ðất, Hòn Sóc và Hòn Me. Ðất nghèo giờ đã làm nên những kỳ tích chính từ hạt lúa, củ khoai, góp phần làm vang danh xứ sở.
Ðất nghèo làm nên kỳ tích
Hòn Ðất là huyện có diện tích tự nhiên lớn nhất tỉnh Kiên Giang, gồm 14 xã, hai thị trấn. Ðịa hình có đồi núi, biển, đồng bằng. Ðây là vùng ngập lũ của Tứ giác Long Xuyên, nên đất đai chỉ mới được thuần hóa thời gian gần đây. Phó Bí thư Thường trực Huyện ủy Hòn Ðất Phan Văn Tám cho biết: Do đất nhiễm phèn, mặn rất nặng, cho nên mãi đến những năm cuối thập niên 80 của thế kỷ 20, Hòn Ðất mới đưa vào trồng lúa được một phần nhỏ diện tích, nhưng cũng chỉ canh tác được một vụ. Một diện tích đất rộng lớn trồng cây tràm, đào... hoặc bỏ hoang. Ðến khi có chủ trương khai phá vùng Tứ giác Long Xuyên, Hòn Ðất lại là huyện nghèo của tỉnh, khi những hộ nghèo từ khắp các nơi tập trung về nhận đất khai hoang, phục hóa. 'Người đến nhận đất rất đông, nhưng sau đó thưa thớt dần. Làm ăn thất bát, nhiều hộ 'bỏ của chạy lấy người', tìm nơi khác lập nghiệp, đồng đất lại hoang vắng' - đồng chí Phan Văn Tám nhớ lại.
Trên những con lộ nhựa, tôi vào sâu bên trong các xã phía bắc lộ, giáp với tỉnh An Giang (phía nam lộ giáp Biển Tây), một bên là kênh xáng, bên là nhà dân. Sau nhà là cánh đồng mênh mông, lúa hè thu đang thì con gái. Con lộ còn là con đê, vừa giao thông vừa ngăn dòng nước lũ từ kênh xáng không tràn lên cánh đồng. Khoảng một km, có một cái cống hoặc cầu. Hằng năm, vào mùa lũ nước từ thượng nguồn đổ về. Trước kia gây ngập lụt, nhưng nay nước mang phù sa về bồi đắp cho cánh đồng và mang tôm cá cho người dân. Ðồng chí Phan Văn Tám khẳng định: Nông nghiệp Hòn Ðất nói riêng và vùng Tứ giác Long Xuyên nói chung có được thành quả hôm nay là nhờ chủ trương 'sống chung với lũ' của Ðảng và Nhà nước. Sau khi các công trình thoát lũ ra Biển Tây gấp rút được hoàn thành, nhất là những công trình thủy lợi sau khi đưa vào sử dụng đã phát huy được hiệu quả rõ rệt. Những con kênh dọc, ngang tháo chua, rửa phèn, đưa phù sa về với đất. Những con đập, cái cống ngăn nước mặn xâm nhập, giữ nước ngọt tưới tiêu cho đồng ruộng. Những con đê đắp cao hơn đỉnh lũ cao nhất, bảo đảm hầu hết diện tích đất sản xuất được hai vụ lúa ăn chắc. Diện tích đất trồng lúa hai vụ tăng hàng nghìn, thậm chí hàng chục nghìn ha mỗi năm. Những khu rừng sản xuất kém hiệu quả kinh tế được chuyển sang trồng lúa. Một diện tích lớn đất các doanh nghiệp được giao khoán không sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích được thu hồi giao cấp lại cho dân nghèo. Hòn Ðất hiện đã có gần 73 nghìn ha đất trồng lúa. Nếu tính chung đất nông nghiệp, Hòn Ðất có hơn 98 nghìn ha.
Ông Nguyễn Văn Huề ở xã Nam Thái Sơn đang sở hữu gần một nghìn công ruộng cho rằng, nông nghiệp vùng Tứ giác Long Xuyên cất cánh còn nhờ việc Nhà nước đẩy mạnh giao khoán ruộng, cấp quyền sử dụng đất cho dân. Thế chấp vay tiền ngân hàng và từ các chính sách hỗ trợ, nông dân đầu tư mạnh mua cơ giới, áp dụng giống mới, cho nên năng suất, chất lượng lúa không ngừng tăng lên. Vụ đông xuân năng suất bình quân đã hơn 7,2 tấn, vụ hè thu cũng gần 5 tấn/ha. Nhiều hộ nông dân ở Hòn Ðất có thu nhập vài trăm triệu đồng, thậm chí hàng tỷ đồng mỗi năm. Từ một huyện thiếu lương thực, Hòn Ðất đã vươn lên trở thành một huyện sản xuất lúa trọng điểm của tỉnh, với diện tích, sản lượng đứng đầu. Trong đó, sản lượng gần chạm mốc 900 nghìn tấn/năm, chiếm một phần tư sản lượng lúa toàn tỉnh.
Ðưa cây lúa, củ khoai vươn xa
Ðể vùng Tứ giác Long Xuyên có thành quả lớn trong nông nghiệp, đóng góp không nhỏ thuộc về những người nông dân không chịu đầu hàng hoàn cảnh, cải tạo đồng đất khó, cống hiến những thành quả lao động của mình để tạo nên những kỳ tích. Vượt qua chín cầu cống, tôi mới đến được trang trại khoai lang Ba Hạo, giữa một cánh đồng xanh mênh mông thuộc ấp Hiệp Lợi, xã Mỹ Hiệp Sơn. Chủ trang trại là ông Ðỗ Quý Hạo (Ba Hạo) quê ở Thái Bình, vào Kiên Giang lập nghiệp từ năm 1980. Với bản lĩnh của một người lính, tính cần cù chịu khó của một nông dân, ông đã tạo dựng một cơ ngơi đồ sộ từ hai bàn tay trắng. Ông Ba Hạo cho biết: Trang trại khoai lang của ông có quy mô hơn 50 ha, được đắp đê bao khép kín, bảo đảm an toàn sản xuất suốt cả năm. Hầu hết các công đoạn đánh luống, bỏ phân, chăm sóc, phun thuốc trừ sâu, thu hoạch... đều bằng máy móc do chính ông cải tiến làm ra. Hiện sản xuất khoai lang ở đây đang từng bước thực hiện lộ trình Global GAP. Mỗi năm trang trại cung cấp cho thị trường trong nước và nhiều nước trên thế giới hơn 2.500 tấn khoai lang các loại. Giữa vùng đất phèn, ngập lũ của Tứ giác Long Xuyên, ông Ba Hạo lập một thư viện với hàng nghìn sách nông nghiệp, phòng thí nghiệm mi-ni, phòng in-tơ-nét miễn phí, quản lý quy trình sản xuất bằng máy vi tính, lập trang tin điện tử quảng bá sản phẩm làm ra... Những sáng kiến của ông đã được nông dân trong vùng áp dụng ngay trên đồng ruộng, được các nhà khoa học đánh giá cao. Năm rồi, nông dân Ðỗ Quý Hạo vinh dự được tham dự Ðại hội Thi đua yêu nước toàn quốc lần thứ VIII và được bầu vào Ðoàn Chủ tịch của Ðại hội, được giao lưu với các nhà khoa học danh tiếng. 


Ở ấp Tân Hưng, xã Mỹ Lâm có nông dân Nguyễn Văn Tính được nhiều người đặt cho biệt danh 'kỹ sư nông dân' vì đã lai tạo thành công nhiều giống lúa có năng suất, chất lượng tốt, đáp ứng nhu cầu của nông dân. Ông Tính bộc bạch: 'Trước đây, tôi trồng lúa bằng các loại giống như: 98, 99, 1960, AS996... năng suất ổn định nhưng nhiều nhược điểm. Vì vậy, tôi quyết chí tìm tòi để lai tạo giống lúa mới'. Sau thời gian nghiên cứu, ông Tính đã cho ra đời giống lúa mới HÐ1 (Hòn Ðất 1). Sau khi trồng thử nghiệm, giống HÐ1 được đánh giá có nhiều đặc tính ưu việt được nông dân vùng đồng bằng sông Cửu Long đưa vào sản xuất trên diện tích lớn. Các doanh nghiệp xuất khẩu gạo ưa chuộng, thu mua và xuất sang nhiều nước trên thế giới. Ngoài HÐ1, ông Tính còn lai tạo thành công một số giống lúa mới như HÐ6, HÐ8, HÐ9. Nông dân Nguyễn Văn Tính được Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam cấp giấy chứng nhận Ðiển hình sáng tạo Việt Nam về công trình lai tạo giống. Mỗi năm, trại lúa giống của ông Tính cung cấp ra thị trường gần một nghìn tấn giống.


Phát triển nông nghiệp toàn diện
Tuy có bước phát triển vượt bậc, nhưng nông nghiệp của Hòn Ðất chưa phát triển đồng bộ giữa các vùng. Một diện tích đất không nhỏ ở phía nam lộ bị mặn xâm nhập, cây trồng bị thiệt hại. Nguyên nhân do nhiều đoạn rừng phòng hộ bị vỡ, một vài cống đập vận hành chưa linh hoạt, cho nên xảy ra mâu thuẫn giữa người trồng lúa và người nuôi thủy sản. Trong khi đó, việc rà soát của chính quyền và các cơ quan chuyên môn chậm nên việc điều chỉnh quy hoạch không kịp thời. Việc liên kết trong sản xuất cũng chậm triển khai nên người dân gặp khó khăn về vốn ở đầu vụ và đầu ra cho sản phẩm vào cuối vụ.
Theo đồng chí Phan Văn Tám, thời gian tới Hòn Ðất vẫn ưu tiên đầu tư phát triển nông nghiệp, nhưng sẽ theo hướng toàn diện. Ðối với cây lúa, phấn đấu tăng trên cả ba mặt: diện tích, năng suất và chất lượng. Ðể diện tích gieo trồng lúa cả năm đạt hơn 147 nghìn ha, trong đó vụ hè thu đạt hơn 72,5 nghìn ha, tổng sản lượng lương thực cả năm đạt hơn 900 nghìn tấn, Hòn Ðất sẽ triển khai nhanh công tác điều chỉnh quy hoạch, căn cứ vào đó để chuyển đổi sản xuất. Nhân rộng một số mô hình sản xuất có hiệu quả; chuyển đổi thêm 3,5 nghìn ha đất rừng sản xuất kém hiệu quả sang trồng lúa. Ngoài ra, Hòn Ðất đang liên kết với các doanh nghiệp xuất khẩu gạo, các doanh nghiệp cung ứng vật tư nông nghiệp để xây dựng cánh đồng lúa chất lượng cao với diện tích 20 nghìn ha để phục vụ nhu cầu xuất khẩu.
Sau hơn 25 năm đổi mới, giờ nhắc đến xứ Hòn người ta không chỉ nhớ đến tấm gương anh hùng, bất khuất, trung hậu, đảm đang của chị Sứ, nhân vật chính trong tác phẩm Hòn Ðất mà nhà văn Anh Ðức lấy nguyên mẫu từ nữ anh hùng liệt sĩ Phan Thị Ràng để xây dựng, mà còn nhớ đến một vùng nông thôn mới tươi đẹp, đất đai trù phú nằm bên bờ Biển Tây. Ở đó có những 'kỹ sư nông dân' đã đưa hạt lúa, củ khoai quê hương tìm được thế đứng cạnh tranh không chỉ trong nước mà cả những thị trường lớn trên thế giới



Một số bài liên quan khác




Người đương thời: Khoai lang Ba Hạo

Việt Nam - Khoai lang Atlas - CIP-collab
Người Trung Quốc thuê đất Việt Nam trồng... khoai lang

Tin Nông nghiệp Việt Nam 03

TIN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM 03 Tin lương thực toàn cầu ngày 3-6/11/2012 (Food Crops News 123) Tiếp nối Con đường lúa gạo Lương Định Của;  Kỳ tích từ cây lúa, củ khoai ở Hòn Ðất; Khoai lang Việt Nam từ giống tốt đến thương hiệu ; VAAS tin tức nông nghiệp trong nước và thế giới. Tin Nông nghiệp Việt Nam ngày 12-18/11/2012.

Công dụng của khoai lang


Nhân khoai môn và khoai lang cho bánh Pía

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC;
FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet

Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM
,
DẠY VÀ HỌC



Không có nhận xét nào:

Lưu trữ

Dạy và học trực tuyến cây lúa



CÂY LƯƠNG THỰC. Mời các bạn tham gia lớp học trực tuyến Ngân hàng kiến thức trồng lúa (Vietnamese Rice Knowledge Bank) Trang tin điện tử về cây lúa của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Để tiết kiệm thời gian cho người học, chúng tôi đã tích hợp vào những trang FOOD CROPS, FOODCROPS.VN (Mời bạn bấm vào đây hoặc vào đây để đọc)

CÂY LÚA

CHƯƠNG TRÌNH HỌC TÍN CHỈ
(Biên soạn : TS. Hoàng Kim, 5 bài 1 tín chỉ )

I. Vị trí kinh tế của cây lúa
1.1 Vai trò của lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.2 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của lúa gạo
1.3 Phân loại, nguồn gốc,vùng phân bố, lịch sử phát triển
1.4 Sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

II. Sinh học cây lúa
2.1 Đặc điểm thực vật học của cây lúa
(rễ, thân, lá, hoa, bông, hạt)
2.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa
(nẩy mầm,/ mạ, đẻ nhánh, phát triển đốt thân, /
làm đòng, trổ bông, /làm hạt)
2.3 Đặc điểm sinh lý của ruộng lúa năng suất cao
2.3.1 Năng suất tối đa và dạng hình cây lúa lý tưởng
2.3.2 Quang hợp hô hấp, chế độ nước và mật độ trồng
2.3.3 Nhu cầu và dinh dưỡng khoáng của cây lúa
2.3.4.Những thiệt hại trên ruộng lúa nhiệt đới

III Khí hậu và đất lúa
3.1 Khí hậu: Ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, nguồn nước
3.2. Đất lúa Việt Nam vùng phân bố và tính chất đất cơ bản
3.3 Những vùng trồng lúa và các vụ lúa chính ở Việt Nam
3.4 Quản lý dinh dưỡng cho lúa theo vùng đặc thù
3.5 Biểu hiện cây lúa thiếu chất dinh dưỡng và bị ngộ độc

IV Giống lúa và công nghệ sản xuất giống
4.1 Các giống lúa tốt phổ biến ở Việt Nam
4.2. Đặc điểm sinh lý và di truyền của cây lúa
4.3 Tiêu chuẩn ngành về khảo nghiệm DUS và VCU giống lúa
4.4 Quy trình công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai

V. Kỹ thuật canh tác lúa
5.1 Mười biện pháp kỹ thuật chủ yếu canh tác lúa
5.2 Quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa thuần
5.3 Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai.
5.4 Việt GAP lúa khái niệm, ý nghĩa và quy trình

Xem tiếp tại http://fooccrops.vn/

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA
(Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Văn Tuất)

Cây lúa và sự phát triển
1. Tổng quan về cây lúa
2. Các thời kỳ và giai đoạn phát triển của cây lúa
3. Sự khác nhau giữa các giai đoạn phát triển của cây lúa
4. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa
5. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ mạ
6. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ đẻ nhánh
7. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực của cây lúa
8. Thời kỳ chín

Hạt giống
9. Hạt giống lúa
10. Các bộ phận của hạt giống lúa
11. Quá trình nảy mầm
12. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nước
13. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Không khí
14. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nhiệt độ
15. Vì sao phải ủ hạt giống
16. Vì sao phải chọn hạt giống tốt

Sự phát triển của cây mạ
17. Nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho sự phát triển của cây mạ
18. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: độ sâu của nước
19. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: lượng nước
20. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: nhiệt độ
21. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: cường độ ánh sáng
22. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: những chất dinh dưỡng dễ sử dụng
23. Cây mạ tốt có chiều cao cây phát triển đồng đều
24. Cây mạ tốt có bẹ lá ngắn
25. Cây mạ tốt phải không có sâu bệnh
26. Cây mạ tốt phải có nhiều rễ và khối lượng lớn

Cấy lúa
27. Vì sao phải cấy
28. Cấy bao nhiêu dảnh mạ trên một khóm
29. Vì sao phải cấy ở độ sâu thích hợp
30. Xén bớt lá mạ trước khi cấy nên hay không nên

Các bộ phận của cây lúa
31. Lá lúa
32. Thân lúa và sự tạo lóng
33. Rễ lúa
34. Nhánh lúa
35. Những yếu tố ảnh hưởng đến đẻ nhánh
36. Hoa lúa và sự thụ phấn, thụ tinh
37. Bông lúa và các giai đoạn hình thành hạt

Phân bón
38. Phân bón và bón phân cho cây lúa
39. Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón
40. Phân bón hữu cơ
41. Phân bón vô cơ
42. Phân đạm và hiệu suất phân đạm
43. Phân đạm và mùa vụ
44. Phân đạm và cách sử dụng để tăng hiệu quả
45. Phân đạm và cách bón đạm để tăng hiệu quả
46. Phân lân và hiệu suất phân lân
47. Phân kali và hiệu suất phân kali

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
48. Nước và đời sống cây lúa
49. Nhiệt độ và đời sống cây lúa
50. Ánh sáng và đời sống cây lúa
51. Các giai đoạn phát triển và yếu tố cấu thành năng suất

Côn trùng hại lúa
52. Sâu đục thân lúa 2 chấm
53. Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu
53 Sâu đục thân 5 vạch đầu đen
55. Sâu đục thân bướm cú mèo
56. Sâu cuốn lá nhỏ
57. Sâu cuốn lá lớn
58. Sâu gai
59. Rầy nâu
60. Rầy lưng trắng
61. Sâu cắn gié
62. Sâu năn
63. Sâu phao
64. Châu chấu
65. Bọ trĩ
66. Bọ xít dài
67. Bọ xít xanh
68. Bọ xít đen

Bệnh hại lúa
69. Bệnh đạo ôn
70. Bệnh khô vằn
71. Bệnh hoa cúc
72. Bệnh vàng lụi
73. Bệnh vàng lún và lùn xoắn lá
74. Bệnh bạc lá
75. Bệnh lúa von
76. Bệnh thối bẹ
77. Bệnh đốm nâu
78. Bệnh cháy bìa lá
79. Bệnh lem lép hạt