14/10/2014

Sắn Việt Nam tồn tại và bất cập




CÂY LƯƠNG THỰC. "Sắn Việt Nam tồn tại và bất cập" gồm các bài : "Sắp bội thực nhà máy sắn" (Trần Đăng Lâm, Báo Nông nghiệp Việt Nam 2014) . "Những nhà máy nhiên liệu sinh học ở Việt Nam" (Hoàng Kim, Dạy và học 2013)  "Cơ cấu cây trồng ở các tỉnh vùng Tây Nguyên với quan điểm phát triển bền vững " (Nguyễn Văn Mễ 2012).


Trên thế giới , hướng sử dụng nguyên liệu sắn để chế biến tinh bột, cồn sinh học, tinh bột biến tính, thức ăn gia súc và màng phủ sinh học đang ngày càng được quan tâm. Tại Việt Nam , theo  FAO 2013 “Sắn tiềm năng to lớn là cây trồng thế kỷ 21”, Việt Nam được ca ngợi là điển hình trong thực tiễn đã đưa năng suất sắn lên 36,0 tấn / ha năm 2011 tại nhiều hộ nông dân ở Tây Ninh đạt 400% so với 8,5 tấn/ ha năm 2000. Sắn lát và tinh bột sắn Việt Nam  là một trong mười mặt hàng xuất khẩu chính. Việt Nam hiện có 13 nhà máy nhiên liệu sinh học công suất 1067,7 triệu lít cồn sinh học mỗi năm, 66 nhà máy chế biến tinh bột sắn qui mô công nghiệp và  hơn 2000 cơ sở chế biến sắn thủ công (Hoang Kim, Le Huy Ham et al. 2013). Sắn là sự lựa chọn của nhiều hộ nghèo và người dân ở các vùng đất xấu, bạc màu, khô hạn, cũng là sự lựa chọn của nhiều doanh nghiệp chế biến và kinh doanh do sắn đạt lợi nhuận cao, dễ trồng, ít chăm sóc, chi phí thấp, dễ thu hoạch và dễ chế biến. Thế nhưng cây sắn Việt Nam đồng thời cũng có nhiều tồn tại và bất cập.


SẮP "BỘI THỰC" NHÀ MÁY SẮN

Nông nghiệp Việt Nam. 13/10/2014



NNVN. Trần Đăng Lâm . Với chủ trương của lãnh đạo tỉnh, diện tích sắn tại Đăk Lăk sẽ tăng lên ít nhất hàng chục nghìn ha, kéo theo nhiều hệ lụy. Viễn cảnh là "bội thực" nhà máy sắn, và theo đó rừng chắc chắn sẽ bị chặt phá đi nhiều hơn nữa để lấy đất trồng sắn.


* Thêm 4 NM sắn nữa, rừng tiếp tục bị "cạo trọc"
Mặc dù diện tích trồng sắn của tỉnh Đăk Lăk đã lên tới 28.000-32.000 ha/năm, với 4 nhà máy chế biến tinh bột sắn nhưng mới đây, UBND tỉnh này vẫn đề nghị Chính phủ và các bộ, ngành cho phép xây dựng thêm 4 nhà máy nữa. Đây là động thái có thể làm gia tăng tình trạng mất rừng, tàn phá môi trường và nhiều hệ lụy khác.

“Cạo” rừng để trồng sắn
Những năm trước đây, người dân huyện Krông Bông chưa mặn mà với cây sắn, giờ số hộ có vài chục ha sắn không phải là hiếm.

Ông Nguyễn Văn Sỹ ở xã Hòa Phong, huyện Krông Bông cho biết: “Thấy người ta trồng sắn có lãi quá, năm ngoái gia đình tôi cũng chuyển 3 ha đất trồng thuốc lá để trồng loại cây này, trừ hết chi phí còn lãi hơn 100 triệu đồng. Ở đây có nhà còn thuê thêm đất ở các huyện khác để trồng thêm đấy”.

Còn ở xã Cư Đrăm, rất đông đồng bào dân tộc di cư tự do từ các tỉnh miền núi phía Bắc dắt díu nhau vào tận rừng sâu thuộc tiểu khu 1176, ngang nhiên chặt phá cây rừng để lấy đất trồng sắn. Những cánh rừng ở tiểu khu này trước đó không lâu còn ngằn ngặt xanh, thâm u huyền bí, giờ đã bị cạo trọc để thay vào đó là bạt ngàn những sắn là sắn...

Thống kê trong vài năm gần đây cho thấy, diện tích sắn tại Đăk Lăk tăng chóng mặt theo thời giá. Năm 2009, toàn tỉnh có 24.000 ha, năm 2011 tăng lên trên 31.000 ha (sản lượng 610.000 tấn), năm 2012 có gần 26.000 ha (sản lượng 470.000 tấn), năm 2013 trên 29.000 ha (sản lượng trên 570.000 tấn), năm 2014 khoảng 32.000 ha, với sản lượng ước khoảng 1 triệu tấn củ tươi/năm.

Ông Trịnh Tiến Bộ - Trưởng phòng Trồng trọt, Sở NN-PTNT Đăk Lăk, cho biết: “Từ nhiều năm nay, ngành nông nghiệp tỉnh luôn khuyến cáo người dân tập trung thâm canh, không ồ ạt trồng mới cây sắn.

Sở dĩ diện tích sắn trên địa bàn tỉnh tăng nhanh trong những năm gần đây là do từ năm 2008, thương lái Trung Quốc vào thu mua với số lượng lớn, mức giá hấp dẫn nên người dân bất chấp khuyến cáo, đua nhau trồng mới, trong đó có nhiều hộ thậm chí còn phá bỏ một số loại hoa màu truyền thống khác để trồng sắn".

Năm 2013, người trồng sắn được phen điêu đứng khi giá sắn lát bất ngờ rớt xuống còn 1.200 đồng/kg, chỉ bằng một nửa cùng kỳ năm trước. Tuy nhiên, không hiểu do sức hấp dẫn nào mà niên vụ này, diện tích sắn của tỉnh Đăk Lăk vẫn “nhảy” lên tới khoảng 32.000 ha (trong khi quy hoạch ban đầu chỉ có 15.000 ha).

Đơn cử như huyện Ea Súp: Quy hoạch ban đầu là 1.500 ha, trong khi trên thực tế nông dân huyện này đã trồng tới 3.200 ha sắn; huyện Ea H’leo 4.213 ha, huyện Cư M’ga 5.022 ha, huyện Ea Kar 1.022 ha, huyện Krông Bông 3.433 ha... Các huyện này cũng là nơi có 4 nhà máy tinh bột sắn của tỉnh.

Bất ổn từ một chỉ đạo

Theo tính toán của nông dân, bình quân mỗi ha sắn nông dân đầu tư từ 10-15 triệu đồng sẽ thu được 25-30 tấn. Với giá bán cao , trung bình người trồng sắn sẽ thu lãi 30-35 triệu đồng/ha. Chính vì thấy cái lợi trước mắt từ giá trị kinh tế cây sắn mang lại mà người dân đổ xô làm liều, bất chấp mọi khuyến cáo của cơ quan chức năng.

Theo ông Trịnh Tiến Bộ, chủ trương của tỉnh là không tăng thêm diện tích trồng sắn, nhưng vừa rồi nhiều huyện vẫn đề nghị cho doanh nghiệp xây dựng thêm nhà máy, kích thích mở rộng vùng nguyên liệu.



Với chủ trương của lãnh đạo tỉnh, diện tích sắn tại Đăk Lăk sẽ tăng lên ít nhất hàng chục nghìn ha. Không thể phủ nhận giá trị kinh tế mà cây sắn mang lại, tuy nhiên cần sớm có kế hoạch tăng cường thâm canh, sử dụng các giống mới có năng suất cao tốt hơn là ồ ạt mở rộng diện tích một cách tràn lan.


Điều đáng nói là với cây sắn, chỉ trồng 2-3 vụ, bao nhiêu dinh dưỡng trong đất đều bị hút sạch. Đất trở nên bạc màu, cằn cỗi, khó có thể gieo trồng được loại cây nào khác. Chưa kể việc mở rộng diện tích ồ ạt như hiện nay sẽ dẫn đến khủng hoảng thừa, nông dân bị ép giá, khó tránh khỏi thua lỗ.

Có nhiều ý kiến cho rằng: Diện tích sắn của tỉnh Đăk Lăk chủ yếu tập trung ở những địa bàn đất xấu, khó phát triển các loại cây khác; hơn nữa nếu trồng sắn theo đúng khoa học kỹ thuật sẽ ít ảnh hưởng đến đất mà còn nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm…

Đó chỉ là một cách bao biện của một nhóm người nào đó bởi trên thực tế, do thấy cái lợi lớn trước mắt nên nông dân ồ ạt mở rộng diện tích trồng sắn trên tất cả các vùng đất, loại đất mà cây sắn có thể mọc, không cần biết đó là rừng cấm, thậm chí còn phá bỏ nhiều diện tích cây trồng truyền thống khác của địa phương để trồng sắn.

Còn “trồng sắn theo đúng khoa học kỹ thuật” thì cũng mới chỉ dừng lại ở ý tưởng tốt bởi sự tự phát nâng diện tích trồng sắn, chạy theo lợi nhuận trước mắt của thị trường nên “ý tưởng” này - với bà con nông dân, xem ra còn quá… xa xỉ!

Trong khi đó, tại cuộc họp mới đây, ông Hoàng Trọng Hải - Chủ tịch UBND tỉnh Đăk Lăk đã chỉ đạo các sở, ngành của tỉnh tiếp tục cho triển khai bổ sung quy hoạch, đầu tư xây dựng thêm 4 nhà máy tinh bột sắn tại các huyện M’Đrắk, Ea Kar và Krông Bông với công suất khoảng 20.000 tấn/năm cho mỗi nhà máy.

Lãnh đạo tỉnh này cũng chỉ đạo Sở NN-PTNT hướng dẫn, thống nhất với các doanh nghiệp xác định, quy hoạch vùng nguyên liệu đảm bảo cho hoạt động sản xuất nhà máy trong thời gian tới. Rõ ràng với số các nhà mấy xây thêm thì Đăk Lăk sẽ "bội thực" nhà máy sắn, và theo đó rừng chắc chắn sẽ bị chặt phá đi nhiều hơn nữa để lấy đất trồng sắn.


CÁC NHÀ MÁY NHIÊN LIỆU SINH HỌC VIỆT NAM

DẠY VÀ HỌC 19 tháng 9 năm 2013


 

DẠY VÀ HỌC.Việt Nam hiện có 13 dự án nhà máy nhiên liệu sinh học đã được phê duyệt đầu tư với tổng công suất 1067,7 triệu lít cồn sinh học mỗi năm, trong đó có sáu nhà máy sản xuất Ethanol đã đi vào hoạt động và một nhà máy đang xây dựng (Bộ Công thương 2012). Tính đến cuối năm 2012, năng lực sản xuất Ethanol nhiên liệu của cả nước đạt 535 triệu lít/năm, đủ để phối trộn 8,35 triệu tấn xăng E5 (5% Ethanol) hoặc 4,17 triệu tấn xăng E10 (10% Ethanol). Tuy nhiên các nhà máy nhiên liệu sinh học đang lao đao vì sản phẩm xăng E5 không tiêu thụ được: Đầu tư lớn và lỗ; Nhà máy ethanol hoạt động khó khăn.
Trong số đó, Nhà máy sản xuất Ethanol Đồng Xanh- Quảng Nam công suất 130 triệu lít/năm đi vào hoạt động từ 2011, nhưng đến cuối năm 2012 đang tạm dừng sản xuất. Nhà máy sản xuất Ethanol Bình Phước có công suất kế 100 triệu lít/năm, đi vào hoạt động từ tháng 4/2012, đến quý I/2013 cũng đã phải tạm ngừng sản xuất. Nhà máy sản xuất Ethanol sinh học (Dung Quất -Quảng Ngãi) với công suất thiết kế 100 triệu lít/năm; Nhà máy sản xuất Ethanol Đại Việt- Đắc Nông có công suất thiết kế 70 triệu lít/năm; Nhà máy sản xuất ethanol Tùng Lâm - Đồng Nai công suất thiết kế 70 triệu lít/năm hoạt động từ 2011; Nhà máy sản xuất Bioethanol (Đắc Tô - Kon Tum) với công suất thiết kế 65 triệu lít/năm đều trong tình trạng hoạt động cầm chừng. Nhà máy sản xuất Ethanol Phú Thọ, công suất 100 triệu tấn/năm đang trong quá trình xây dựng, đã tạm dừng do khó khăn về vốn đầu tư.

Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (PVN) cho biết, hiện Tập đoàn có khoảng 150 điểm bán xăng E5, mỗi tháng bán được 2.500 m3 xăng E5, cả năm khoảng 30.000 m3, tương đương với 1.500 m3 Ethanol, bằng công suất sản xuất trong 5 ngày của một nhà máy Ethanol. Hiện giá bán 1 lít xăng E5 theo niêm yết giá tại các cửa hàng có bán xăng E5 của PV Oil, xăng A92 đang bán giá 23.150 đồng/ lít, xăng E5 bán giá 23.050 thấp hơn xăng A92 khoảng 100 đồng mỗi lít nhưng nhu cầu không nhiều. Giá xăng E5 xuất khẩu là 13.000 đồng/ lít. 


Theo ông Trần Ngọc Năm, phó tổng giám đốc Petrolimex cho biết: do mặt hàng xăng E5 có đặc tính ngậm nước nên cần phải xây dựng kế hoạch triển khai bán xăng E5 theo đúng lộ trình do Chính phủ quy định dựa trên các căn cứ thông tin công khai về kết quả bán thử nghiệm xăng E5 được các cơ quan có chức năng công bố; cần đầu tư hệ thống thiết bị pha trộn tại các kho, đảm bảo phù hợp với tình hình tài chính của Petrolimex trong điều kiện kinh doanh xăng dầu đáp ứng mục tiêu bình ổn giá của Chính phủ.
Sắn Việt Nam làm nhiên liệu sinh học đang  đối mặt với những thách thức mới.

Hoàng Kim
(Bài tổng hợp tin nhanh từ các báo)




CƠ CẤU CÂY TRỒNG VÙNG TÂY NGUYÊN

DAỴ VÀ HỌC 03/06/2012

DẠY VÀ HỌC. Hoàng Kim. Đất rừng Tây Nguyên đang chuyển đổi nhanh chóng thành đất trồng cà phê, cao su và sắn. Vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên hiện đã thành vùng cao su, cà phê chủ yếu trong tổng diện tích cao su của cả nước năm 2010 là 740.000 ha và diện tích cà phê hơn 550.000 ha. Sản lượng sắn Tây Nguyên tăng đột biến gấp sáu lần trong vòng 10 năm từ 351.500 tấn năm 2000 lên 2.179.500 tấn năm 2010 do năng suất sắn tăng gấp đôi và diện tích sắn mở rộng từ 38000 ha năm 2000 lên 133.200 ha năm 2010. Sự cấp thiết phải soát xét, điều chỉnh, tổ chức, quản lý, quy hoạch phát triển trang trại hợp lý; xác định hệ thống cây trồng vật nuôi và quy trình kỹ thuật thâm canh thích hợp, bền vững cho mỗi cây trồng, vật nuôi tại từng tiểu vùng cụ thể. Hoàn thiện giải pháp tổng thể với quan điểm phát triển Tây Nguyên bền vững hài hòa lợi ích kinh tế, xã hội , văn hóa, môi trường. 

Trang DẠY VÀ HỌC xin giới thiệu bài Cơ cấu cây trồng ở các tỉnh vùng Tây Nguyên với quan điểm phát triển bền vững của ông Nguyễn Văn Mễ là Đại biểu Quốc hội khoá 11, nguyên Chủ tịch UBND,HĐND tỉnh Thừa Thiên Huế. Bài này trong cụm bài Đối thoại chiến lược nông nghiệp mới để rộng đường dư luận. Mỗi bài trích dẫn đều thể hiện quan điểm riêng của tác giả và mong được đóng góp ý kiến.


CƠ CẤU CÂY TRỒNG Ở CÁC TỈNH VÙNG TÂY NGUYÊN VỚI QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN BỀN VỮNG.


Nguyễn Văn Mễ

Tất cả chúng ta đều nhận thức rõ vị trí Tây Nguyên trong chiến lược quốc phòng - an ninh của đất nước. Tuy vậy, Tây Nguyên còn có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đảm bảo sự phát triển bền vững về kinh tế- xã hội của cả nước nói chung; của vùng duyên hải Trung Bộ, Đông Nam Bộ và của chính vùng Tây Nguyên nói riêng. Bài viết này không đề cập đến mọi khía cạnh của quan điểm phát triển bền vững mà chỉ xới ra một số vấn đề về bố trí cơ cấu cây trồng có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến yêu cầu bảo vệ rừng và nguồn nước, những yếu tố có tính sống còn đối với vùng cây công nghiệp và cây lương thực lớn nhất Việt Nam ; đồng thời là khu vực có nhu cầu ngày càng cao về nước cho sinh hoạt dân cư và sản xuất công nghiệp.

Trước hết, Tây Nguyên là nơi xuất phát của nhiều con sông lớn đổ về đồng bằng sông Cửu Long như sông Sài Gòn, sông Đồng Nai và tất cả các con sông vùng duyên hải từ Đà nẵng vào cực nam Trung Bộ. Nguồn nước cung cấp cho các con sông này đều gắn liền với " kho nước " Tây Nguyên,nơi có diên tích rừng tự nhiên chiếm gần 1/3 diện tích cả nước ( 2.846.500 ha/ 9529.400 ha ) ( 1 ). Nếu tính cả diện tích rừng tự nhiên của các tỉnh duyên hải Nam Trung bộ và vùng Đông Nam bộ thì diện tích rừng có ảnh hưởng trực tiếp đến nguồn nước của 19 tỉnh , thành phố chiếm gần 50%. Diện tích rừng đang bị gặm nhắm với tốc độ ngày càng nhanh cả từ phía đồng bằng lên cũng như từ phía Tây Nguyên xuống; chưa kể sự phá hoại rừng theo kiểu da báo trong từng địa phương để đáp ứng yêu cầu của dân cư tại chỗ, của đông đảo người nhập cư và của cả những người có vốn đầu tư từ các đô thị nhắm tới vùng này như một " thánh địa " để kiếm cơ hội làm giàu từ các trang trại trồng cà phê, cao su và một số cây trồng có độ che phủ kém khác.

Trong cơ cấu cây trồng ở các tỉnh Tây Nguyên, diện tích trồng sắn chiếm một tỉ trọng lớn, chỉ sau cây lúa và tăng với tốc độ chóng mặt. Chỉ tính riêng các tỉnh Kon Tum, Gia Lai, Đak Lak, Đak Nông; Lâm Đồng đã tăng từ 38000 ha ( năm 2000 ) lên 88.300 ha ( năm 2005 ) và 133.200 ha ( năm 2010), chiếm hơn 1/4 diện tích cả nước ( 133.200 ha/ 496.200 ha ) ( 2 ). 

Điều đáng lưu ý là diện tích dành cho việc trồng sắn trong thực tế lớn hơn con số này nhiều vì chỉ sau tối đa ba năm, khi năng suất giảm mạnh , người trồng sắn phải mở ra vùng đất mới để có thể duy trì qui mô sản xuất và đảm bảo thu nhập. Diện tích mở ra thường là những vùng rừng tự nhiên cận kề nương rẫy trồng sắn cũ và việc lấn dần theo kiểu " tằm ăn dâu " này đã làm mất đi hàng ngàn hecta rừng và phải nhiều năm sau số liệu rừng bị mất mới được phản ảnh trong thống kê của chính quyền các cấp. Trong số diện tích rừng bị lấn chiếm, có không ít vùng có độ dốc trên 30%, hoàn toàn không phù hợp với việc trồng sắn, vì phần đất màu mỡ sẽ nhanh chóng bị rửa trôi dẫn đến nguy cơ bị sạt lở đất , uy hiếp đến tính mạng, tài sản của đồng bào phần lớn cư trú ở vùng đất thấp hơn, ở các triền núi giáp thung lũng.

Nguyên nhân vì sao có sự phát triển mang tính đột biến của cây sắn? Có phải việc phát triển trồng sắn ở Tây Nguyên đã và đang có một tỉ lệ không nhỏ mang tính tự phát? Vì sao trong lúc nhiều quốc gia có sản lượng sắn lớn đã chủ động thu hẹp vùng sản xuất để chuyển sang nhập khẩu nguyên liệu sắn sơ chế, thì ở nước ta việc chuyển dịch cây trồng đang đi theo hướng ngược lại? Rõ ràng, chiến lược phát triển kinh tế nông nghiệp cả trước mắt và lâu dài đều đòi hỏi có sự xem xét, cân nhắc kỹ lưỡng. 

Bên cạnh những mặt tốt về xây dựng mô hình sản xuất tập trung, chuyên canh để vươn lên trở thành nhà xuất khẩu cà phê, cao su hàng đầu thế giới thì công tác qui hoạch và quản lý qui hoạch về cây trồng ở các tỉnh Tây Nguyên đã bộc lộ sự bất cập. 

Mối quan hệ giữa các tỉnh Tây Nguyên với vùng duyên hải, vùng Đông Nam Bộ và thành phố Hồ Chí Minh về qui hoạch vùng sản xuất và phân bổ các cơ sở chế biến không được điều tiết ở tầm vĩ mô, nên vùng Tây Nguyên bị tác động mạnh mẽ của ngoại lực để trở thành nơi cung cấp nguyên liệu cho hàng loạt nhà máy chế biến tinh bột mọc lên một cách ồ ạt ở các địa bàn lân cận. Chu kỳ canh tác ngắn; mức đầu tư thấp, lợi nhuận không cao nhưng có thể nhận được trong năm …là những tác nhân kích thích phong trào trồng sắn trong vùng đồng bào các dân tộc, vốn có truyền thống trồng và sử dụng lương thực từ sắn, chuyển từ giai đoạn tự cấp tự túc sang giai đoạn sản xuất" hàng hoá ".

Cũng trong chưa đầy 10 năm, diện tích trồng cao su ở 5 tỉnh Tây Nguyên và các tỉnh Đông Nam Bộ cũng không ngừng mở rộng và trở thành vùng chuyên canh chủ yếu trong tổng diện tích hơn 740.000 ha của cả nước. Diện tích cà phê ở hai vùng này cũng chiếm phần lớn của tổng diện tích hơn 550.000 ha ( 3 ) . Không ít diện tích cao su, cà phê trồng mới cũng từ đất rừng chuyển đổi. Cơ cấu cây trồng ở vùng Tây Nguyên đã và đang có sự thay đổi mạnh mẽ, trong đó diện tích rừng , đặc biệt là rừng tự nhiên đang ngày càng giảm sút cả về số lượng và chất lượng; thay vào đó là sự tăng trưởng không được kiểm soát tốt đối với diện tích trồng cây công nghiệp và các loại cây lương thực thực phẩm ngắn ngày khác, trong đó có cây sắn.

Sự giảm sút diện tích rừng gây ra hậu quả tức thì là sự suy giảm nguồn nước dự trữ và đáp ứng nhu cầu tại chỗ cũng như nguồn cung cấp cho sản xuất và đời sống dân cư ở vùng hạ lưu khu vực duyên hải Trung Bộ và Đông Nam Bộ, trong đó có thành phố Hồ Chí Minh và vùng động lực phía Nam. Bài toán cân đối nguồn nước của toàn vùng chưa tìm được lời giải tối ưu vì có quá nhiều ẩn số, đòi hỏi phải lượng hoá sự sụt giảm do mất rừng và tính toán những tác động xảy ra do chế độ vận hành tài nguyên nước của hàng chục nhà máy thuỷ điện lớn, nhỏ.. đã làm cho lưu lượng nước chảy qua hệ thống sông ngòi trong khu vực sụt giảm nghiêm trọng. Tình trạng nước mặn xâm nhập sâu qua các cửa sông Thu Bồn, Vu Gia ở Quảng Nam và Đà Nẵng; sự thiếu hụt nước sinh hoạt đã xuất hiện ở Thành phố Buôn Mê Thuột và một số địa phương của hai tỉnh Gia Lai, Kon Tum là những chỉ báo không thể xem thường.

Đã đến lúc cần làm rõ quy hoạch, kế hoạch bố trí cơ cấu cây trồng và các cơ sở chế biến nguyên liệu trong từng địa phương gắn với toàn vùng Tây Nguyên; với các địa bàn lân cận cũng như với cả nước theo hướng ưu tiên bảo vệ rừng và giải quyết hài hoà, hợp lý mối quan hệ giữa các loại cây trồng dài ngày- trung bình và ngắn ngày; trong đó, cần xác định rõ phạm vi, giới hạn về mặt diện tích có thể chấp nhận được của cây cao su, cà phê và cây sắn .

Quy hoạch đó phải được chi tiết hoá đến từng vùng, thậm chí đến từng thửa đât, kèm theo những qui định về áp dụng chế độ thâm canh, luân canh; chống xói mòn , bảo vệ đất. Mặt khác, cần có những giải pháp về tuyên truyền, giáo dục ; về các chế tài hành chính và luật pháp..được áp dụng một cách mạnh mẽ, đồng bộ trong công tác quản lý quy hoạch bố trí cơ cấu cây trồng nói chung và quản lý, bảo vệ rừng nói riêng.

Đồng thời cũng cần làm rõ phạm vi quản lý, trách nhiệm của bộ máy nhà nước, của người sử dụng đất, của các chủ rừng; trong đó có trách nhiệm, quyền hạn của các cấp chính quyền địa phương; giám đốc các nông lâm trường; hợp tác xã..Kiên quyết không để tiếp tục xảy ra tình trạng " lâm tặc " và những người dân vì lợi ích ngắn ngày, đã và đang vô tình hay cố ý huỷ hoại diện tích rừng tự nhiên ít ỏi còn lại và gây ra sự giảm sút " kho nước " có liên quan đến sự phát triển bền vững sản xuất và đời sống của hàng chục triệu người vùng Tây Nguyên, duyên hải Trung Bộ, thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ.

Trước mắt, cần tập trung giải quyết những yếu kém, bất cập của việc phát triển khá nhanh nhưng thiếu tính vững chắc của vùng sắn nguyên liệu ở các tỉnh Tây Nguyên; từng bước sắp xếp lại các nhà máy chế biến tinh bột trong khu vực; cân nhắc kỹ chủ trương xây dựng các nhà máy sản xuất nhiên liệu sinh học từ sắn vì việc này làm tăng nguy cơ giảm sút diện tích rừng, vốn là giải pháp tối ưu để giải quyết khí thải độc hại./.


( 1 ), ( 2 ), ( 3 ) : Các số liệu dẫn chứng lấy từ Niên giám thống kê do Tổng cụ Thống kê phát hành năm 2005 và 2010.



Đôi nét về tác giả:
Nguyễn Văn Mễ đại biểu quốc hội
Nguyễn Văn Mễ Chủ tịch UBND tỉnh Thừa Thiên Huế 

25/09/2014

Cú hích từ nông nghiệp công nghệ cao


CÂY LƯƠNG THỰC. Theo Bộ NN&PTNT, cả nước hiện có 29 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoạt động tại 12 tỉnh, thành phố, trong số đó đã có những khu đầu tư có hiệu quả, đem lại lợi nhuận khá cao. Cú hích từ nông nghiệp công nghệ cao , bài viết của Trường Duy tại trang VOH Đài Tiếng nói Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh (Một góc nông nghiệp công nghệ cao TPHCM - ảnh Hutech)


(VOH) - Trước tình trạng đất nông nghiệp nhiều nơi ở nước ta đang bị thu hẹp cùng với sự tác động của biến đổi khí hậu toàn cầu, việc ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp được đặt ra như một giải pháp đúng đắn và phù hợp.

Để tạo ra nền nông nghiệp bền vững đòi hỏi phải có quy trình sản xuất tiên tiến trong đó sản xuất lương thực, thực phẩm theo công nghệ cao là một trọng tâm cần xây dựng và phát triển. Nhận thức được tầm quan trọng này, những năm qua, nhiều tỉnh, thành không ngừng thúc đẩy nghiên cứu ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất nông nghiệp, nhờ vậy giá trị gia tăng trong lĩnh vực này tiếp tục phát triển ổn định qua từng năm dù còn những thách thức không nhỏ về thị trường. Ông Lê Minh Dũng - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT TPHCM dẫn chứng :"Thành phố hiện có nhiều mô hình sản xuất trồng trọt, chăn nuôi cho đến nuôi trồng thủy sản ứng dụng quy trình sản xuất công nghệ cao và đã có hiệu quả rất cao, góp phần nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp. Bình quân giá trị gia tăng ngành nông nghiệp hiện nay đạt trên 5% mỗi năm, giá trị sản xuất nông nghiệp đến năm 2013 đạt 282 triệu đồng/hecta/năm".

Có thể nói đối với một nền nông nghiệp hiện đại, chiến lược phát triển nông nghiệp công nghệ cao luôn là mối quan tâm hàng đầu bởi nhiều ý nghĩa thiết thực của nó. Trong đó, ý nghĩa trực tiếp chính là thay đổi quan niệm sản xuất và cung ứng những tiến bộ mới để cuối cùng đem lại cho nông dân những ứng dụng thiết thực, hiệu quả mà họ vẫn đang chờ đợi. Hiện nay, tại một số nơi, bà con đã được thụ hưởng những thành quả ngọt ngào từ chiến lược này. Ông Trần Đức Quang, một hộ trồng rau trong nhà kính ở thành phố Đà Lạt bộc bạch: "Nếu sản xuất đại trà như trước sẽ không bảo đảm được thu nhập của gia đình do giá cả không ổn định. Còn với mô hình nhà kính như hiện nay, mình sẽ ký được hợp đồng, giá cả và đầu ra ổn định, đặc biệt thu nhập kinh tế gia đình khả quan hơn".

Tại tỉnh Tiền Giang, một địa phương nhiều tiềm năng và thế mạnh về kinh tế vườn, gần đây cũng nhờ đẩy mạnh chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ, thu nhập của nhà vườn nơi đây đã cải thiện nhiều. Ông Cao Văn Hóa - Phó Giám đốc Sở NN&PTNT tỉnh Tiền Giang cho biết : "Qua chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ kết hợp với kinh nghiệm của nông dân đã đem lại thu nhập đáng kể. Nhiều mô hình trồng thanh long, sầu riêng có thu nhập trên 300-400 triệu/năm, thậm chí có những mô hình thu nhập trên 600 triệu. Chúng tôi đã thống kê và phân tích là giá trị sản xuất của ngành hàng cây ăn quả gần 14.000 tỷ".

Điểm đáng ghi nhận là sau 10 năm đầu tư xây dựng phát triển nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp nước nhà dần dịch chuyển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Một số nơi với sự ra đời của khu nông nghiệp công nghệ cao đã cung cấp cho thị trường nhiều sản phẩm nông nghiệp mang hàm lượng chất xám cao. Đơn cử Khu nông nghiệp công nghệ cao TPHCM sau 10 năm hình thành và 4 năm chính thức hoạt động đã nhân giống trên 510.000 cây hoa lan cấy mô các loại, ươm giống và chuyển giao hơn 28.000 cây cà tím, 382.000 cây ớt giống, 42.800 cây bí giống cùng 400 cây cà chua gốc ghép. Riêng 3 năm trở lại đây, có hơn 190 tỷ đồng của các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư vào khu nông nghiệp công nghệ cao này. Song song đó công tác đào tạo nguồn nhân lực có trình độ chuyên môn cao về nông nghiệp cũng tạo được những hiệu ứng tích cực. Ông Từ Minh Thiện - Phó Trưởng Ban Quản lý Khu nông nghiệp công nghệ cao TPHCM cho hay: "Hiện khu có khoảng 225 cán bộ nhân viên, trong đó hơn 60% cán bộ tốt nghiệp đại học và sau đại học. Đây là nguồn nhân lực không nhỏ đóng góp vào sự phát triển nông nghiệp công nghệ cao. Vì vậy, đào tạo nguồn nhân lực là yếu tố khá quan trọng để tiếp nhận các chuyển giao từ nước ngoài và cải tiến cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam".

Theo Bộ NN&PTNT, cả nước hiện có 29 khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao hoạt động tại 12 tỉnh, thành phố, trong số đó đã có những khu đầu tư có hiệu quả, đem lại lợi nhuận khá cao. Tuy nhiên, một số ít khu hoạt động còn hạn chế do đầu tư chưa đồng bộ, tập trung; đồng thời cơ chế hỗ trợ, thu hút doanh nghiệp còn thiếu hấp dẫn, trong khi việc gắn kết giữa sản xuất với tiêu thụ sản phẩm còn yếu. Đây cũng chính là những hạn chế trong phát triển nông nghiệp công nghệ cao ở nước ta bên cạnh khó khăn về vốn, về điều kiện đất đai manh mún, nhỏ lẻ. Vì vậy, để lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao ngày càng lan tỏa và phủ rộng, cần có chính sách hỗ trợ về vốn, về cơ chế quản lý điều hành đi kèm với sự hưởng ứng nhiệt tình của các doanh nghiệp, trang trại nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao.




23/09/2014

Tuyển chọn giống lúa cao sản xanh tại tỉnh Phú Yên

 

CÂY LƯƠNG THỰC. Hình ảnh một số giống lúa cao sản xanh (Green Super Rice - GSR) tiêu biểu trong các khảo nghiệm cơ bản tại Trại Giống Lúa Hòa Đồng, Trại Giống Lúa Hòa An (Trung tâm Giống và Kỹ thuật cây trồng Phú Yên) và tại huyện Đồng Xuân, tỉnh Phú Yên . Những giống lúa GSR triển vọng đã tuyển chọn qua hai vụ khảo nghiệm GSR90, GSR65, GSR38, GSR84, GSR63, GSR89, GSR54, GSR36, GSR100... Những giống GSR triển vọng mới qua tuyển chọn vụ đầu  GSR108, GSR133, GSR135, GSR 136, GSR118, GSR117, GSR 120, GSR 102, GSR103, GSR 104, GSR105, GSR 106, GSR107







 


 



Lúa GSR ở Trại Giống Lúa Hòa Đồng









Lúa GSR ở Trại Giống Lúa Hòa An




 

 Lúa GSR ở huyện Đồng Xuân


GSR 108 


                                                                                GSR133


Một số giống lúa thuần GSR hạt tròn (lai giữa Japonica Indica)  mới tuyển 




16/08/2014

Công nhận bốn sản phẩm ngô biến đổi gen đầu tiên làm thực phẩm


CÂY LƯƠNG THỰC. Thông tin từ Thanh Tâm (Vietnam+) ngày 14 tháng 8 năm 2014. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vừa chính thức cấp giấy xác nhận thực vật biến đổi gen có đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi cho bốn sản phẩm ngô biến đổi gen đầu tiên ở Việt Nam. Cụ thể, các sản phẩm ngô biến đổi gen được phê duyệt lần này bao gồm giống Bt 11, MIR162 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Syngenta Việt Nam và giống MON 89034, NK603 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Dekalb Việt Nam thuộc Tập đoàn Monsanto của Mỹ. (Ngô trồng trên vùng đất bãi của huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Ảnh: Trần Tuấn /TTXVN)

Theo đó, giấy xác nhận phê duyệt được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi biến đổi gen, theo đúng trình tự được quy định. Đây là 4 sản phẩm biến đổi gen đầu tiên được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam và đảm bảo là không có bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào đối với con người và vật nuôi.
Các sản phẩm cây trồng biến đổi gen đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên, ở Việt Nam, đây là lần đầu tiên các sản phẩm này được xác nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc đưa các sản phẩm biến đổi gen vào sản xuất trong nông nghiệp.


Đại diện Cục Chăn nuôi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, sự kiện trên được kỳ vọng sẽ giúp giảm thiểu tình trạng nhập siêu ngô tăng liên tục trong những năm trở lại đây. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này và có thể thực sự tiếp cận với tiến bộ khoa học nông nghiệp, nông dân còn phải chờ thêm chứng nhận an toàn đối với môi trường và thông qua quy trình khảo nghiệm và công nhận giống của Bộ Tài nguyên và Môi trường.


Đại diện Cục Chăn nuôi cũng cho biết, mặc dù chưa chính thức công nhận, nhưng những sản phẩm ngô, đậu tương Việt Nam nhập khẩu về làm thức ăn gia súc từ trước đến nay hầu hết là cây trồng biến đổi gen./.


Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong 6 tháng đầu năm 2014, so với cùng kỳ năm trước, khối lượng nhập khẩu ngô đạt 2,33 triệu tấn và giá trị nhập khẩu đạt 599 triệu USD, tăng gấp 2,4 lần về lượng và 87,1% về giá trị; khối lượng nhập khẩu đậu tương đạt 856.000 tấn, với giá trị 504 triệu USD, tăng 25,8% về lượng và 22,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Thông tin dự báo của Cục Chăn nuôi, nhiều khả năng đến hết năm nay, nước ta sẽ nhập khẩu đến trên 4,5 triệu tấn ngô (đáp ứng khoảng 2/3 nhu cầu) và ước chi phí sẽ lên đến khoảng hơn 1 tỷ USD.

Tin liên quan




"CHÚNG TA ĐÃ MẶC HAI LỚP ÁO GIÁP!"

CÂY LƯƠNG THỰC. Theo Nông nghiệp Việt Nam Online  ngày 19 tháng 8 năm 2014. Nhân sự kiện Bộ NN-PTNT chính thức công bố cấp phê duyệt bốn sự kiện ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, báo Nông nghiệp Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp Lê Huy Hàm (hình)./ Không thể bỏ qua công nghệ biến đổi gen


Phê duyệt để kiểm soát
Bốn văn bản vừa qua có ý nghĩa gì với lộ trình đưa cây trồng biến đổi gen vào VN?

Ý nghĩa thứ nhất nó là tiền đề để quản lý toàn bộ những thực phẩm, thức ăn chăn nuôi biến đổi gen nhập vào VN. Ý nghĩa thứ hai là tiền đề để cho phép thương mại hóa cây trồng biến đổi gen vào VN.

Hiện nay chúng ta nhập khẩu rất nhiều đậu tương, chiếm trên 90% toàn bộ lượng đậu tương tiêu thụ ở VN. Có thể khẳng định tất cả chúng đều là biến đổi gen vì 81% đậu tương trên thế giới là biến đổi gen.

Đậu tương không biến đổi gen hiện chỉ sản xuất ở diện nhỏ và tiêu thụ tại chỗ, còn đậu tương trên thị trường thương mại đều là biến đổi gen. Khoảng 35% ngô trên thế giới là biến đổi gen. VN năm ngoái nhập khẩu hơn 2 triệu tấn ngô năm nay chỉ trong 6 tháng đã nhập 2,3 triệu tấn, ngô đó cũng là biến đổi gen cả.

 Nếu chúng ta chưa có quy chế thì rõ ràng ngô biến đổi gen, đậu tương biến đổi gen và các thứ biến đổi gen khác vào ra VN không kiểm soát được. Giờ ta có quy chế để kiểm soát, những sản phẩm biến đổi gen phải được cho phép mới được nhập vào Việt Nam, không cho phép thì không thể vào được.

Từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015 tất cả những đơn vị nhập khẩu các mặt hàng ngô, đậu tương phải đăng ký và đều phải được Bộ NN-PTNT phê duyệt. Đây là bước tiến tới kiểm soát toàn bộ các sản phẩm biến đổi gen.

Ngoài 4 loại được cho phép nhập khẩu vào VN, còn rất nhiều loại ngô, đậu biến đổi gen khác thì sao?

Chúng ta cho họ thời hạn đến tháng 3 năm 2015 để nộp đơn, xem xét. Nếu sau đó mà không có trong danh mục sẽ không được nhập khẩu vào Việt Nam.

Có khả năng sẽ có những sản phẩm không trong danh mục nhưng núp danh loại đã được cho phép để trà trộn vào VN?

Khả năng đó bao giờ cũng có thể xảy ra! Vậy nên kiểm soát đầu vào rất quan trọng. Trước hết ta phải kiểm soát trên giấy tờ và sau đó sẽ kiểm soát trên mẫu vật. Đó chính là trách nhiệm của Bộ NN-PTNT.

Không chịu một sức ép nào

Ông đánh giá ra sao về lộ trình đưa cây trồng biến đổi gen vào VN? Trước đây Bộ NN-PTNT đã rất quyết tâm nhưng thực tế vẫn chậm so với mong muốn?

Bộ NN-PTNT không những trước kia quyết tâm mà giờ càng quyết tâm hơn. Bốn giấy phép này là tiền đề để đưa cây trồng biến đổi gen vào trồng ở VN vì trước khi được trồng chúng phải được cho phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và thực phẩm cho người.

Nếu không được phép sử dụng thì không ai dám mang vào để trồng ở VN cả. Chỉ có trên cơ sở tiền đề này Bộ TN-MT mới có thể phê duyệt và cho phép trồng thương mại.

Trình tự để công nhận vừa qua thế nào thưa ông?

Các công ty nộp hồ sơ ở Văn phòng công nghệ sinh học thuộc Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ NN-PTNT). Ở đó họ sẽ xem xét chúng đủ thủ tục hành chính chưa. Nếu đủ mọi thủ tục hành chính rồi bắt đầu đăng lên mạng để công chúng có ý kiến.

Sau khi công chúng có ý kiến sẽ mang ra xem xét. Trong hồ sơ phải có tất cả các đặc tính của cây trồng biến đổi gen, đặc tính về phân tử của cơ thể cho gen, nhận gen, quá trình chuyển gen như thế nào, gen có bền vững hay không, đã thử nghiệm ở đâu, gen biểu hiện như thế nào, ở những bộ phận nào, các thí nghiệm trên vật nuôi xem ảnh hưởng như thế nào…

Ngoài hồ sơ chứng minh về an toàn như ở các nước khác, VN còn đòi thêm một cái rất đặc thù là giấy chứng nhận đã được 5 nước phát triển cho phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và thực phẩm cho người.

Các nhà lập pháp đã tính đến quan ngại của công chúng nên họ đã đưa ra hai bức giáp sắt để bảo vệ. Để cho công chúng đỡ quan ngại thì bằng chứng tốt nhất là loại cây trồng biến đổi gen đó đã sử dụng ở 5 nước phát triển.


Việc công khai cho phép nhập khẩu ngô biến đổi gen làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi nằm trong lộ trình công nhận trồng ngô biến đổi gen trong tương lai gần tại Việt Nam

Nếu ở nước khác thì có thể lý luận người ta đói mới phải ăn, thiếu mới phải dùng cây trồng biến đổi gen nhưng đây là Nhật, Hàn Quốc, Úc, Mỹ, EU… nên không có chuyện do thiếu, đói mà phải dùng. Qua đó ta thấy được các sản phẩm biến đổi gen đưa vào Việt Nam là rất an toàn.

Trong quá trình ngồi ghế hội đồng xét duyệt, các ông có chịu sức ép nào từ phía lãnh đạo, doanh nghiệp hay công luận không?

Tất nhiên ai cũng muốn công việc của mình xong nhưng nhóm làm việc không để một sức ép nào ảnh hưởng đến công việc, phải tuyệt đối tuân thủ theo luật, nghị định, thông tư.

Hội đồng xét an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi có 11 người gồm đại diện các Bộ TN-MT, Y tế, Công thương, KH-CN, NN-PTNT. Tôi cũng là một thành viên trong Hội đồng đó.
Các công ty nộp hồ sơ từ tháng 3 năm 2014 đến nay mới được cấp phép vì chúng tôi phải xem xét đi, xem xét lại mà mỗi hồ sơ đều dày như một cuốn từ điển chưa kể phụ lục.

Bà con nông dân đang rất quan tâm đến chuyện cây trồng biến đổi gen bao giờ sẽ ra thương mại?

Hiện hồ sơ xin cho phép trồng thương mại cây biến đổi gen đang nằm trên bàn Bộ TN-MT, đang được xem xét bởi Hội đồng an toàn sinh học quốc gia. Phía Bộ NN-PTNT đã hoàn thành hết trách nhiệm của mình.

Cơ sở khoa học vững chắc

Người tiêu dùng nói chung hiểu rất mù mờ về cây trồng biến đổi gen. Nếu phỏng vấn ngẫu nhiên mười người đang mua hàng ở siêu thị, ở chợ với một câu: “Ông hay bà có đồng ý mua thực phẩm biến đổi gen không?” thì cả mười người đều trả lời là không. Ông bình luận ra sao về vấn đề đó?

Đây là câu chuyện rất hay! Tôi đã đi giảng bài, nói chuyện với công chúng. Tôi đặt câu hỏi thế này: “Các bác đã ăn AND chưa?”. “Không, sợ lắm! Chúng tôi không ăn”. “Các bác đã ăn gen bao giờ chưa?”. “Không, sợ lắm! Chúng tôi không ăn”.

Thực ra tất cả cái chúng ta ăn hàng ngày là gen, là AND. Ăn một hạt cơm là ăn khoảng 40.000 gen. Người ta không tưởng tượng ra được điều ấy.

Biến đổi gen là con đường tất yếu của sinh giới (động, thực vật, vi sinh vật) để thích nghi với điều kiện môi trường luôn luôn thay đổi. Trong hàng triệu năm nay sinh giới đều phải biến đổi gen.

 Ví dụ xuống Trung tâm tài nguyên thực vật lấy một cây lúa dại ra mà xem, nó cao 20cm, một ha cho năng suất chưa đến 1 tạ. Con người đã chọn lọc những biến đổi gen từ lúa dại đó để tạo ra giống lúa như ngày nay.

Kiểu dáng của cây lúa ngày nay đã hoàn toàn khác với cây lúa ngày xưa. Kiểu hình thay đổi chứng tỏ là kiểu gen thay đổi. Đấy là biến đổi gen trong tự nhiên.


"Bản thân ở VN chúng ta đã dùng sản phẩm cây trồng biến đổi gen (ngô, đậu tương) hàng chục năm nay mà chưa ai nhức đầu, đau bụng cả", ông Lê Huy Hàm.


Hay là trong lịch sử chọn giống người ta dùng các loại tia phóng xạ, tia ion, tia gamma bắn phá bộ gen tạo nên đột biến, một loại biến đổi gen trong khuôn khổ một cơ thể, còn biến đổi gen ngày nay là lấy từ cơ thể này sang cơ thể khác.

Hiện nay cây trồng biến đổi gen đang có những thông tin trái chiều, có lực lượng chống, cố tình dựng lên những bức tranh ghê sợ theo mục tiêu của người ta.

  Ông nói quá trình biến đổi gen là tất yếu của sinh giới để thích nghi hoàn cảnh biến đổi, vậy hoàn cảnh hiện nay không biến đổi mà cố biến đổi gen phải chăng là phản tự nhiên?


Phải nói thế này, dù ta có lấy gen từ đâu đi chăng nữa nó cũng chỉ là bốn nucleotít: adenine (A), thymine (T), cytosine (C), guanine (G), và bốn cái đó chung cho tất cả động, thực vật, vi sinh vật, cho cả người, khỉ, lúa, vi khuẩn…
 
Gen của sinh vật nào cũng như nhau. Từ gen tạo thành protein. Protein ở đâu cũng gồm 20 axit amin. 20 axit amin này mà sắp xếp theo các trình tự khác nhau thì thành thịt, thành cá, thành gạo, thành rau.


Các cơ thể xây dựng trình tự axit amin theo cách của riêng mình giống như ta lấy chữ la tinh ta viết thì thành tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Rumani đều từ 24 chữ cái. Thiên nhiên chỉ viết bằng bốn chữ cái gồm A, T, C, G nói trên. Ở đây người ta nói nhiều đến gen ngoại lai vậy thế nào là ngoại lai vì ở đâu cũng là A, T, C, G?


Điều đó giống như những viên gạch vậy, anh dỡ nhà nào cũng có viên gạch nhưng cách sắp xếp khác nhau tạo ra các ngôi nhà khác nhau, to lớn, nhỏ bé, hình dạng khác nhau. Cơ sở khoa học đó là vô cùng vững chắc.
 
Xin cảm ơn ông!

 Ngày 11/8/2014, Bộ NN-PTNT chính thức công bố cấp phê duyệt 4 sự kiện ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi.

Các sự kiện được phê duyệt lần này bao gồm sự kiện Bt11 và MIR162 của Công ty TNHH Syngenta Việt Nam và MON 89034, NK603 của công ty TNHH Dekalb Việt Nam (Monsanto).

Giấy xác nhận phê duyệt được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng An toàn Thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi biến đổi gen là không có bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào đối với con người và vật nuôi, đúng trình tự được quy định theo Thông tư 02/2014/TT-BNNPTNT.

Đây là 4 sự kiện biến đổi gen đầu tiên được công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.


   




Dương Đình Tường


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Trở về trang chính 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con



Lưu trữ

Dạy và học trực tuyến cây lúa



CÂY LƯƠNG THỰC. Mời các bạn tham gia lớp học trực tuyến Ngân hàng kiến thức trồng lúa (Vietnamese Rice Knowledge Bank) Trang tin điện tử về cây lúa của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Để tiết kiệm thời gian cho người học, chúng tôi đã tích hợp vào những trang FOOD CROPS, FOODCROPS.VN (Mời bạn bấm vào đây hoặc vào đây để đọc)

CÂY LÚA

CHƯƠNG TRÌNH HỌC TÍN CHỈ
(Biên soạn : TS. Hoàng Kim, 5 bài 1 tín chỉ )

I. Vị trí kinh tế của cây lúa
1.1 Vai trò của lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.2 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của lúa gạo
1.3 Phân loại, nguồn gốc,vùng phân bố, lịch sử phát triển
1.4 Sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

II. Sinh học cây lúa
2.1 Đặc điểm thực vật học của cây lúa
(rễ, thân, lá, hoa, bông, hạt)
2.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa
(nẩy mầm,/ mạ, đẻ nhánh, phát triển đốt thân, /
làm đòng, trổ bông, /làm hạt)
2.3 Đặc điểm sinh lý của ruộng lúa năng suất cao
2.3.1 Năng suất tối đa và dạng hình cây lúa lý tưởng
2.3.2 Quang hợp hô hấp, chế độ nước và mật độ trồng
2.3.3 Nhu cầu và dinh dưỡng khoáng của cây lúa
2.3.4.Những thiệt hại trên ruộng lúa nhiệt đới

III Khí hậu và đất lúa
3.1 Khí hậu: Ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, nguồn nước
3.2. Đất lúa Việt Nam vùng phân bố và tính chất đất cơ bản
3.3 Những vùng trồng lúa và các vụ lúa chính ở Việt Nam
3.4 Quản lý dinh dưỡng cho lúa theo vùng đặc thù
3.5 Biểu hiện cây lúa thiếu chất dinh dưỡng và bị ngộ độc

IV Giống lúa và công nghệ sản xuất giống
4.1 Các giống lúa tốt phổ biến ở Việt Nam
4.2. Đặc điểm sinh lý và di truyền của cây lúa
4.3 Tiêu chuẩn ngành về khảo nghiệm DUS và VCU giống lúa
4.4 Quy trình công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai

V. Kỹ thuật canh tác lúa
5.1 Mười biện pháp kỹ thuật chủ yếu canh tác lúa
5.2 Quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa thuần
5.3 Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai.
5.4 Việt GAP lúa khái niệm, ý nghĩa và quy trình

Xem tiếp tại http://fooccrops.vn/

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA
(Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Văn Tuất)

Cây lúa và sự phát triển
1. Tổng quan về cây lúa
2. Các thời kỳ và giai đoạn phát triển của cây lúa
3. Sự khác nhau giữa các giai đoạn phát triển của cây lúa
4. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa
5. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ mạ
6. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ đẻ nhánh
7. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực của cây lúa
8. Thời kỳ chín

Hạt giống
9. Hạt giống lúa
10. Các bộ phận của hạt giống lúa
11. Quá trình nảy mầm
12. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nước
13. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Không khí
14. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nhiệt độ
15. Vì sao phải ủ hạt giống
16. Vì sao phải chọn hạt giống tốt

Sự phát triển của cây mạ
17. Nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho sự phát triển của cây mạ
18. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: độ sâu của nước
19. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: lượng nước
20. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: nhiệt độ
21. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: cường độ ánh sáng
22. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: những chất dinh dưỡng dễ sử dụng
23. Cây mạ tốt có chiều cao cây phát triển đồng đều
24. Cây mạ tốt có bẹ lá ngắn
25. Cây mạ tốt phải không có sâu bệnh
26. Cây mạ tốt phải có nhiều rễ và khối lượng lớn

Cấy lúa
27. Vì sao phải cấy
28. Cấy bao nhiêu dảnh mạ trên một khóm
29. Vì sao phải cấy ở độ sâu thích hợp
30. Xén bớt lá mạ trước khi cấy nên hay không nên

Các bộ phận của cây lúa
31. Lá lúa
32. Thân lúa và sự tạo lóng
33. Rễ lúa
34. Nhánh lúa
35. Những yếu tố ảnh hưởng đến đẻ nhánh
36. Hoa lúa và sự thụ phấn, thụ tinh
37. Bông lúa và các giai đoạn hình thành hạt

Phân bón
38. Phân bón và bón phân cho cây lúa
39. Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón
40. Phân bón hữu cơ
41. Phân bón vô cơ
42. Phân đạm và hiệu suất phân đạm
43. Phân đạm và mùa vụ
44. Phân đạm và cách sử dụng để tăng hiệu quả
45. Phân đạm và cách bón đạm để tăng hiệu quả
46. Phân lân và hiệu suất phân lân
47. Phân kali và hiệu suất phân kali

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
48. Nước và đời sống cây lúa
49. Nhiệt độ và đời sống cây lúa
50. Ánh sáng và đời sống cây lúa
51. Các giai đoạn phát triển và yếu tố cấu thành năng suất

Côn trùng hại lúa
52. Sâu đục thân lúa 2 chấm
53. Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu
53 Sâu đục thân 5 vạch đầu đen
55. Sâu đục thân bướm cú mèo
56. Sâu cuốn lá nhỏ
57. Sâu cuốn lá lớn
58. Sâu gai
59. Rầy nâu
60. Rầy lưng trắng
61. Sâu cắn gié
62. Sâu năn
63. Sâu phao
64. Châu chấu
65. Bọ trĩ
66. Bọ xít dài
67. Bọ xít xanh
68. Bọ xít đen

Bệnh hại lúa
69. Bệnh đạo ôn
70. Bệnh khô vằn
71. Bệnh hoa cúc
72. Bệnh vàng lụi
73. Bệnh vàng lún và lùn xoắn lá
74. Bệnh bạc lá
75. Bệnh lúa von
76. Bệnh thối bẹ
77. Bệnh đốm nâu
78. Bệnh cháy bìa lá
79. Bệnh lem lép hạt