16/08/2014

Công nhận bốn sản phẩm ngô biến đổi gen đầu tiên làm thực phẩm


CÂY LƯƠNG THỰC. Thông tin từ Thanh Tâm (Vietnam+) ngày 14 tháng 8 năm 2014. Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn vừa chính thức cấp giấy xác nhận thực vật biến đổi gen có đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi cho bốn sản phẩm ngô biến đổi gen đầu tiên ở Việt Nam. Cụ thể, các sản phẩm ngô biến đổi gen được phê duyệt lần này bao gồm giống Bt 11, MIR162 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Syngenta Việt Nam và giống MON 89034, NK603 của Công ty trách nhiệm hữu hạn Dekalb Việt Nam thuộc Tập đoàn Monsanto của Mỹ. (Ngô trồng trên vùng đất bãi của huyện Khoái Châu, Hưng Yên. Ảnh: Trần Tuấn /TTXVN)

Theo đó, giấy xác nhận phê duyệt được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi biến đổi gen, theo đúng trình tự được quy định. Đây là 4 sản phẩm biến đổi gen đầu tiên được Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam và đảm bảo là không có bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào đối với con người và vật nuôi.
Các sản phẩm cây trồng biến đổi gen đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều nước trên thế giới, tuy nhiên, ở Việt Nam, đây là lần đầu tiên các sản phẩm này được xác nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi, sự kiện này đánh dấu một bước tiến quan trọng trong việc đưa các sản phẩm biến đổi gen vào sản xuất trong nông nghiệp.


Đại diện Cục Chăn nuôi thuộc Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho biết, sự kiện trên được kỳ vọng sẽ giúp giảm thiểu tình trạng nhập siêu ngô tăng liên tục trong những năm trở lại đây. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu này và có thể thực sự tiếp cận với tiến bộ khoa học nông nghiệp, nông dân còn phải chờ thêm chứng nhận an toàn đối với môi trường và thông qua quy trình khảo nghiệm và công nhận giống của Bộ Tài nguyên và Môi trường.


Đại diện Cục Chăn nuôi cũng cho biết, mặc dù chưa chính thức công nhận, nhưng những sản phẩm ngô, đậu tương Việt Nam nhập khẩu về làm thức ăn gia súc từ trước đến nay hầu hết là cây trồng biến đổi gen./.


Theo báo cáo của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn trong 6 tháng đầu năm 2014, so với cùng kỳ năm trước, khối lượng nhập khẩu ngô đạt 2,33 triệu tấn và giá trị nhập khẩu đạt 599 triệu USD, tăng gấp 2,4 lần về lượng và 87,1% về giá trị; khối lượng nhập khẩu đậu tương đạt 856.000 tấn, với giá trị 504 triệu USD, tăng 25,8% về lượng và 22,3% về giá trị so với cùng kỳ năm 2013.

Thông tin dự báo của Cục Chăn nuôi, nhiều khả năng đến hết năm nay, nước ta sẽ nhập khẩu đến trên 4,5 triệu tấn ngô (đáp ứng khoảng 2/3 nhu cầu) và ước chi phí sẽ lên đến khoảng hơn 1 tỷ USD.

Tin liên quan




"CHÚNG TA ĐÃ MẶC HAI LỚP ÁO GIÁP!"

CÂY LƯƠNG THỰC. Theo Nông nghiệp Việt Nam Online  ngày 19 tháng 8 năm 2014. Nhân sự kiện Bộ NN-PTNT chính thức công bố cấp phê duyệt bốn sự kiện ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi, báo Nông nghiệp Việt Nam đã có cuộc trao đổi với Viện trưởng Viện Di truyền Nông nghiệp Lê Huy Hàm (hình)./ Không thể bỏ qua công nghệ biến đổi gen


Phê duyệt để kiểm soát
Bốn văn bản vừa qua có ý nghĩa gì với lộ trình đưa cây trồng biến đổi gen vào VN?

Ý nghĩa thứ nhất nó là tiền đề để quản lý toàn bộ những thực phẩm, thức ăn chăn nuôi biến đổi gen nhập vào VN. Ý nghĩa thứ hai là tiền đề để cho phép thương mại hóa cây trồng biến đổi gen vào VN.

Hiện nay chúng ta nhập khẩu rất nhiều đậu tương, chiếm trên 90% toàn bộ lượng đậu tương tiêu thụ ở VN. Có thể khẳng định tất cả chúng đều là biến đổi gen vì 81% đậu tương trên thế giới là biến đổi gen.

Đậu tương không biến đổi gen hiện chỉ sản xuất ở diện nhỏ và tiêu thụ tại chỗ, còn đậu tương trên thị trường thương mại đều là biến đổi gen. Khoảng 35% ngô trên thế giới là biến đổi gen. VN năm ngoái nhập khẩu hơn 2 triệu tấn ngô năm nay chỉ trong 6 tháng đã nhập 2,3 triệu tấn, ngô đó cũng là biến đổi gen cả.

 Nếu chúng ta chưa có quy chế thì rõ ràng ngô biến đổi gen, đậu tương biến đổi gen và các thứ biến đổi gen khác vào ra VN không kiểm soát được. Giờ ta có quy chế để kiểm soát, những sản phẩm biến đổi gen phải được cho phép mới được nhập vào Việt Nam, không cho phép thì không thể vào được.

Từ tháng 3 năm 2014 đến tháng 3 năm 2015 tất cả những đơn vị nhập khẩu các mặt hàng ngô, đậu tương phải đăng ký và đều phải được Bộ NN-PTNT phê duyệt. Đây là bước tiến tới kiểm soát toàn bộ các sản phẩm biến đổi gen.

Ngoài 4 loại được cho phép nhập khẩu vào VN, còn rất nhiều loại ngô, đậu biến đổi gen khác thì sao?

Chúng ta cho họ thời hạn đến tháng 3 năm 2015 để nộp đơn, xem xét. Nếu sau đó mà không có trong danh mục sẽ không được nhập khẩu vào Việt Nam.

Có khả năng sẽ có những sản phẩm không trong danh mục nhưng núp danh loại đã được cho phép để trà trộn vào VN?

Khả năng đó bao giờ cũng có thể xảy ra! Vậy nên kiểm soát đầu vào rất quan trọng. Trước hết ta phải kiểm soát trên giấy tờ và sau đó sẽ kiểm soát trên mẫu vật. Đó chính là trách nhiệm của Bộ NN-PTNT.

Không chịu một sức ép nào

Ông đánh giá ra sao về lộ trình đưa cây trồng biến đổi gen vào VN? Trước đây Bộ NN-PTNT đã rất quyết tâm nhưng thực tế vẫn chậm so với mong muốn?

Bộ NN-PTNT không những trước kia quyết tâm mà giờ càng quyết tâm hơn. Bốn giấy phép này là tiền đề để đưa cây trồng biến đổi gen vào trồng ở VN vì trước khi được trồng chúng phải được cho phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và thực phẩm cho người.

Nếu không được phép sử dụng thì không ai dám mang vào để trồng ở VN cả. Chỉ có trên cơ sở tiền đề này Bộ TN-MT mới có thể phê duyệt và cho phép trồng thương mại.

Trình tự để công nhận vừa qua thế nào thưa ông?

Các công ty nộp hồ sơ ở Văn phòng công nghệ sinh học thuộc Vụ Khoa học, Công nghệ và Môi trường (Bộ NN-PTNT). Ở đó họ sẽ xem xét chúng đủ thủ tục hành chính chưa. Nếu đủ mọi thủ tục hành chính rồi bắt đầu đăng lên mạng để công chúng có ý kiến.

Sau khi công chúng có ý kiến sẽ mang ra xem xét. Trong hồ sơ phải có tất cả các đặc tính của cây trồng biến đổi gen, đặc tính về phân tử của cơ thể cho gen, nhận gen, quá trình chuyển gen như thế nào, gen có bền vững hay không, đã thử nghiệm ở đâu, gen biểu hiện như thế nào, ở những bộ phận nào, các thí nghiệm trên vật nuôi xem ảnh hưởng như thế nào…

Ngoài hồ sơ chứng minh về an toàn như ở các nước khác, VN còn đòi thêm một cái rất đặc thù là giấy chứng nhận đã được 5 nước phát triển cho phép sử dụng làm thức ăn chăn nuôi và thực phẩm cho người.

Các nhà lập pháp đã tính đến quan ngại của công chúng nên họ đã đưa ra hai bức giáp sắt để bảo vệ. Để cho công chúng đỡ quan ngại thì bằng chứng tốt nhất là loại cây trồng biến đổi gen đó đã sử dụng ở 5 nước phát triển.


Việc công khai cho phép nhập khẩu ngô biến đổi gen làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi nằm trong lộ trình công nhận trồng ngô biến đổi gen trong tương lai gần tại Việt Nam

Nếu ở nước khác thì có thể lý luận người ta đói mới phải ăn, thiếu mới phải dùng cây trồng biến đổi gen nhưng đây là Nhật, Hàn Quốc, Úc, Mỹ, EU… nên không có chuyện do thiếu, đói mà phải dùng. Qua đó ta thấy được các sản phẩm biến đổi gen đưa vào Việt Nam là rất an toàn.

Trong quá trình ngồi ghế hội đồng xét duyệt, các ông có chịu sức ép nào từ phía lãnh đạo, doanh nghiệp hay công luận không?

Tất nhiên ai cũng muốn công việc của mình xong nhưng nhóm làm việc không để một sức ép nào ảnh hưởng đến công việc, phải tuyệt đối tuân thủ theo luật, nghị định, thông tư.

Hội đồng xét an toàn thực phẩm và thức ăn chăn nuôi có 11 người gồm đại diện các Bộ TN-MT, Y tế, Công thương, KH-CN, NN-PTNT. Tôi cũng là một thành viên trong Hội đồng đó.
Các công ty nộp hồ sơ từ tháng 3 năm 2014 đến nay mới được cấp phép vì chúng tôi phải xem xét đi, xem xét lại mà mỗi hồ sơ đều dày như một cuốn từ điển chưa kể phụ lục.

Bà con nông dân đang rất quan tâm đến chuyện cây trồng biến đổi gen bao giờ sẽ ra thương mại?

Hiện hồ sơ xin cho phép trồng thương mại cây biến đổi gen đang nằm trên bàn Bộ TN-MT, đang được xem xét bởi Hội đồng an toàn sinh học quốc gia. Phía Bộ NN-PTNT đã hoàn thành hết trách nhiệm của mình.

Cơ sở khoa học vững chắc

Người tiêu dùng nói chung hiểu rất mù mờ về cây trồng biến đổi gen. Nếu phỏng vấn ngẫu nhiên mười người đang mua hàng ở siêu thị, ở chợ với một câu: “Ông hay bà có đồng ý mua thực phẩm biến đổi gen không?” thì cả mười người đều trả lời là không. Ông bình luận ra sao về vấn đề đó?

Đây là câu chuyện rất hay! Tôi đã đi giảng bài, nói chuyện với công chúng. Tôi đặt câu hỏi thế này: “Các bác đã ăn AND chưa?”. “Không, sợ lắm! Chúng tôi không ăn”. “Các bác đã ăn gen bao giờ chưa?”. “Không, sợ lắm! Chúng tôi không ăn”.

Thực ra tất cả cái chúng ta ăn hàng ngày là gen, là AND. Ăn một hạt cơm là ăn khoảng 40.000 gen. Người ta không tưởng tượng ra được điều ấy.

Biến đổi gen là con đường tất yếu của sinh giới (động, thực vật, vi sinh vật) để thích nghi với điều kiện môi trường luôn luôn thay đổi. Trong hàng triệu năm nay sinh giới đều phải biến đổi gen.

 Ví dụ xuống Trung tâm tài nguyên thực vật lấy một cây lúa dại ra mà xem, nó cao 20cm, một ha cho năng suất chưa đến 1 tạ. Con người đã chọn lọc những biến đổi gen từ lúa dại đó để tạo ra giống lúa như ngày nay.

Kiểu dáng của cây lúa ngày nay đã hoàn toàn khác với cây lúa ngày xưa. Kiểu hình thay đổi chứng tỏ là kiểu gen thay đổi. Đấy là biến đổi gen trong tự nhiên.


"Bản thân ở VN chúng ta đã dùng sản phẩm cây trồng biến đổi gen (ngô, đậu tương) hàng chục năm nay mà chưa ai nhức đầu, đau bụng cả", ông Lê Huy Hàm.


Hay là trong lịch sử chọn giống người ta dùng các loại tia phóng xạ, tia ion, tia gamma bắn phá bộ gen tạo nên đột biến, một loại biến đổi gen trong khuôn khổ một cơ thể, còn biến đổi gen ngày nay là lấy từ cơ thể này sang cơ thể khác.

Hiện nay cây trồng biến đổi gen đang có những thông tin trái chiều, có lực lượng chống, cố tình dựng lên những bức tranh ghê sợ theo mục tiêu của người ta.

  Ông nói quá trình biến đổi gen là tất yếu của sinh giới để thích nghi hoàn cảnh biến đổi, vậy hoàn cảnh hiện nay không biến đổi mà cố biến đổi gen phải chăng là phản tự nhiên?


Phải nói thế này, dù ta có lấy gen từ đâu đi chăng nữa nó cũng chỉ là bốn nucleotít: adenine (A), thymine (T), cytosine (C), guanine (G), và bốn cái đó chung cho tất cả động, thực vật, vi sinh vật, cho cả người, khỉ, lúa, vi khuẩn…
 
Gen của sinh vật nào cũng như nhau. Từ gen tạo thành protein. Protein ở đâu cũng gồm 20 axit amin. 20 axit amin này mà sắp xếp theo các trình tự khác nhau thì thành thịt, thành cá, thành gạo, thành rau.


Các cơ thể xây dựng trình tự axit amin theo cách của riêng mình giống như ta lấy chữ la tinh ta viết thì thành tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Rumani đều từ 24 chữ cái. Thiên nhiên chỉ viết bằng bốn chữ cái gồm A, T, C, G nói trên. Ở đây người ta nói nhiều đến gen ngoại lai vậy thế nào là ngoại lai vì ở đâu cũng là A, T, C, G?


Điều đó giống như những viên gạch vậy, anh dỡ nhà nào cũng có viên gạch nhưng cách sắp xếp khác nhau tạo ra các ngôi nhà khác nhau, to lớn, nhỏ bé, hình dạng khác nhau. Cơ sở khoa học đó là vô cùng vững chắc.
 
Xin cảm ơn ông!

 Ngày 11/8/2014, Bộ NN-PTNT chính thức công bố cấp phê duyệt 4 sự kiện ngô biến đổi gen đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi.

Các sự kiện được phê duyệt lần này bao gồm sự kiện Bt11 và MIR162 của Công ty TNHH Syngenta Việt Nam và MON 89034, NK603 của công ty TNHH Dekalb Việt Nam (Monsanto).

Giấy xác nhận phê duyệt được ban hành sau quá trình xem xét kỹ lưỡng và được chấp thuận bởi Hội đồng An toàn Thực phẩm và Thức ăn chăn nuôi biến đổi gen là không có bất kỳ ảnh hưởng bất lợi nào đối với con người và vật nuôi, đúng trình tự được quy định theo Thông tư 02/2014/TT-BNNPTNT.

Đây là 4 sự kiện biến đổi gen đầu tiên được công nhận đủ điều kiện sử dụng làm thực phẩm và thức ăn chăn nuôi tại Việt Nam.


   




Dương Đình Tường


Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam


Trở về trang chính 
Hoàng Kim
, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sốngThơ cho con



12/06/2014

Hướng dẫn khảo sát so sánh và khảo nghiệm giống ngô lai


CÂY LƯƠNG THỰC. TS. Lê Quý Kha , Phó Viện Trưởng Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam, nguyên Trưởng Bộ môn Chọn tạo giống Ngô,Viện Nghiên cứu Ngô đã chủ biên sách: Hướng dẫn khảo sát, so sánh và khảo nghiệm giống ngô lai (hình). Đây là cẩm nang thực hành cho các cán bộ khoa học trẻ về các công đoạn khảo sát tổ hợp lai, so sánh giống ngô lai triển vọng, đánh giá tính ổn định năng suất và đặc điểm nông học của các giống ngô lai.

"Lời nói đầu" của cuốn sách đã chỉ rõ : "Tài liệu này nêu các bước của quy trình khảo sát, so sánh, khảo nghiệm và công nhận giống ngô lai, nhằm hướng dẫn cụ thể các bước cho những cán  bộ chưa có kinh nghiệm trong việc tiến hành thí nghiệm trên đồng ruộng, qua đó có thể tổ chức thực hiện và hướng dẫn người khác cùng thực hiện.  Những hướng dẫn cho loại thí nghiệm phân bón, mật độ, ô chia nhỏ, hai yếu tố đã được công bố bởi một số tác giả khác. Một số thuật ngữ chuyên ngành tiếng Anh trong một số hình ảnh (lấy từ  bản gốc) và một số giải thích khác, với ý định giúp các độc giả hiểu sát nghĩa những thuật ngữ này khi có điều kiện tiếp cận nguyên bản tiếng Anh về cây ngô. Phần hướng dẫn sơ đồ thí nghiệm và kết quả xử lý thống kê của một số loại  thí nghiệm được minh họa qua một số ví dụ, chạy bằng các chương trình phần mềm miễn phí trên Internet như IRRISTAT 5.0 (IRRI), CropStat 7.2 (CIMMYT–IRRI), hoặc Fieldbook 8.5.1 (CIMMYT)."

Bạn khi thực hành đồng ruộng cần mô tả, tra cứu nguyên liệu ngô, hiện tại đã có sách "Hướng dẫn mô tả nguyên liệu Ngô"do Chủ biên: CIMMYT (Trung tâm nghiên cứu Ngô và Lúa mì Quốc tế và IBPGR (Hội đồng Quốc tế về Tài nguyên và Di truyền Thực vật) ; Biên dịch: TS. Lê Quý Kha - Trưởng BM Chọn tạo giống Ngô, Viện Nghiên Cứu Ngô.


 TS Lê Quý Kha đồng ý phát hành trực tiếp thông tin chi tiết lên mạng Hệ thống Cây Lương thực Việt Nam foodcrops.vn  (do ThS.NCS Hoàng Long làm chủ bút) và các trang blog CÂY LƯƠNG THỰC, food crops vì sự cấp thiết cần phổ cập những thông tin này đến người đọc, đặc biệt là các sinh viên đại học ngành nông học, học viên thạc sĩ, nghiên cứu sinh tiến sĩ ngành di truyền giống, khoa học cây trồng để góp phần thống nhất, hoàn thiện phương pháp nghiên cứu, chuyển giao tiến bộ kỹ thuật cây ngô. Đề nghị ghi rõ nguồn tác giả khi sử dụng  hoặc trích dẫn tài liệu trong các công bố KHCN



download Hướng dẫn khảo sát, so sánh và khảo nghiệm giống ngô lai










Thông tin và tài liệu về hai cuốn sách này đề nghị liên hệ trực tiếp với:
TS. Lê Quý Kha,
Phó Viện Trưởng, Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp Miền Nam
ĐT: 0982110528; Email: lquykha@gmail.com



Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia
56 QCKT VCU Ngo 

Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc, Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con


10/06/2014

Việt Nam có muốn bước khỏi sự lệ thuộc Trung Quốc?


Dưa hấu có thể là một trong những sản phẩm nhiều lần bị
CÂY LƯƠNG THỰC. Việt Nam có muốn bước khỏi sự lệ thuộc Trung Quốc? là bài phân tích của chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan đăng trên báo Đất Việt - Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan cho rằng nền kinh tế Việt Nam phải bước ra khỏi sự lệ thuộc đối với Trung Quốc, kể cả lĩnh vực nông nghiệp. Nhật Bản, Hàn Quốc ... sẽ là thị trường chào đón các sản phẩm nông sản nhiệt đới của Việt Nam nếu ta kiểm soát tốt chất lượng.



PV: - Hiện nay Trung Quốc là thị trường xuất nhập khẩu nông sản lớn nhất của Việt Nam. Việt Nam nhập rất nhiều thuốc trừ sâu, nguyên vật liệu cũng như thức ăn chăn nuôi, hoa quả... Vậy theo bà làm thế nào để ngành nông nghiệp Việt Nam dần tự chủ được?

Chuyên gia Phạm Chi Lan:
-Cũng như các ngành khác, ngay cả về nông sản chúng ta cũng phải xác định trong nhóm hàng này thì việc phân chia giữa thị trường trong nước và thị trường nước ngoài như thế nào.

Về thị trường nước ngoài thì có những thị trường nào có thể mua chứ không nhất thiết là nông sản nhiệt đới của Việt Nam chỉ có thể bán ở Trung Quốc.

Chúng ta còn rất nhiều thị trường khác. Ở đây có thể người ta đòi hỏi chuẩn mực cao hơn, phẩm chất hàng cao hơn và những người sản xuất cũng phải sẵn sàng nâng cấp sản phẩm của mình.

Đây cũng chính là hướng tái cơ cấu nông nghiệp hiện nay chúng ta đang đặt ra để sản phẩm nông nghiệp có giá trị cao hơn và người nông dân hoặc người sản xuất cuối cùng có thể đạt được lợi ích nhiều hơn trong việc bán sản phẩm của mình.

Còn về chiều nhập khẩu, như tôi đã phân tích có rất nhiều ngành mà bây giờ đến lúc các ngành công nghiệp trong nước của Việt Nam có thể và cần phát triển được. Hoặc là chúng ta có thể thu hút đầu tư nước ngoài trong những lĩnh vực làm các sản  phẩm trung gian đó để đỡ phải lệ thuộc vào nguồn cung từ Trung Quốc.
(Dưa hấu có thể là một trong những sản phẩm vì lệ thuộc nên nhiều lần bị thối hỏng ở cửa khẩu: ảnh đầu trang)
PV: - Thưa bà nhưng để tìm thị trường mới xuất nhập khẩu sản phẩm nông sản không phải dễ, và chúng ta cần bao nhiêu thời gian để thực hiện điều đó?

Chuyên gia Phạm Chi Lan: - Tôi khó có thể nói thời gian một cách chung chung vì nó phụ thuộc rất nhiều vào các mặt hàng, sản phẩm khác nhau.

Về nông sản, Việt Nam có Hiệp định EPA với Nhật Bản trong đó Nhật Bản giảm thuế cho Việt Nam gần như tuyệt đối trong đó thị trường nông sản Nhật Bản mở cửa cho Việt Nam.

Điều kiện ở đây là sản phẩm của Việt Nam phải đáp ứng được yêu cầu về vệ sinh an toàn thực phẩm trên thị trường Nhật Bản.
Cho nên câu trả lời ở đây có thể thấy nếu Việt Nam thay đổi được, kiểm soát được tốt về vệ sinh an toàn thực phẩm, chất lượng sản phẩm thì riêng thị trường Nhật Bản cũng đã có một dung lượng đủ lớn để xuất khẩu sang. Hay như Hàn Quốc cũng là một điều kiện tương tự mà cũng có nhiều nhu cầu về nông sản nhiệt đới mà Việt Nam có.

Khi TPP mở ra thì Việt Nam gần như là nước nông sản nhiệt đới duy nhất cung cấp nhiều sản phẩm. Tất nhiên còn có Malaysia nhưng sản phẩm của nước này diện hẹp hơn so với Việt Nam trong khối TPP. Do vậy đây cũng là cơ hội cho Việt Nam xuất khẩu nhưng cái chính là Việt Nam vẫn phải tự giải đáp bài toán của mình là không phải bán trên cơ sở nguyên liệu thô giá rẻ, chất lượng tồi mà phải bán sản phẩm chất lượng cao, cố gắng có giá trị gia tăng cao hơn, vì lợi ích của chính mình.Trong trường hợp đó thì tìm thị trường hoàn toàn không khó.

PV: - Vậy theo bà những vấn đề cấp bách hiện nay Việt Nam cần phải làm là gì để chúng ta nhanh chóng chủ động?

Chuyên gia Phạm Chi Lan: - Khắc phục tình trạng kinh tế hiện nay là thực hiện tái cơ cấu kinh tế, cải cách thể chế mà Thủ tướng đã nói rõ trong thông điệp đầu năm cũng như có khá nhiều chỉ thị, nhiều văn bản đưa ra rồi.

Nếu không thực hiện tái cơ cấu, cải cách thể chế thì nền kinh tế của Việt Nam nếu không có sức ép của Trung Quốc cũng không tự mình thoát ra khỏi tất cả các bế tắc hiện nay.

Đây chính là vấn đề cốt lõi nhất. Muốn thoát ra khỏi sự lệ thuộc của bất cứ ai thì nội lực của mình phải mạnh lên. Mình phải đứng được trên đôi chân của mình mà muốn như vậy thì phải thay đổi cách thức phát triển.

Tất cả các đề án tái cơ cấu kể cả doanh nghiệp nhà nước, ngân hàng thương mại, đầu tư công cũng như nông nghiệp và các cấu phần khác thì cũng đã nói tương đối rõ rồi. Cái chính bây giờ là tổ chức thực hiện mà thôi.

Tôi nghĩ đây là biện pháp vừa mang tính trước mắt vừa mang tính chất lâu dài vì nó tạo nền tảng cho sự phát triển theo cách thức mới.
Xin trân trọng cảm ơn bà!
Bích Ngọc (thực hiện)
(theo báo Đất Việt)


Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc, Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con 

08/05/2014

Tuyển chọn giống lúa chịu mặn cho vùng duyên hải miền Trung


CÂY LƯƠNG THỰC. Đề tài "Tuyển chọn một số giống lúa chịu mặn cho vùng duyên hải miền Trung" do PGS.TS.Trần Thị Lệ, khoa Nông học, Trường Đại học Nông Lâm Huế làm chủ nhiệm đề tài đã xác định được một số giống siêu lúa xanh GSR50, GSR66, GSR81, GSR90, GSR84 triển vọng thích hợp cho các vùng nhiễm mặn ở Phú Yên, Quảng Nam, Thừa Thiên Huế, Nghệ An. Những hình ảnh dưới đây là các kết quả mới ghi nhận được trên đồng ruộng.


















Xem thêm:

Chọn tạo giống lúa thích ứng với biến đổi khí hậu từ nguồn gen siêu lúa xanh GSR
Hồ Quang Cua gạo thơm Sóc Trăng
Tin Nông nghiệp Việt Nam 30

Lúa gạo Việt Nam diễn đàn chọn tạo giống

Video yêu thích  

Evaluation and selection of Green Super Rice varieties in Vietnam
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khaoch xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con
    
 
 



06/05/2014

Hai điểm yếu của nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế


CÂY LƯƠNG THỰC. "Cơ cấu cây trồng bất cân đối và chuỗi ngành hàng thiếu đồng bộ là hai thực trạng cơ bản khiến nông nghiệp Việt Nam chưa khai thác tốt các lợi ích trong thương mại quốc tế." Đó là ý kiến của Tiến sĩ Nguyễn Quốc Vọng (hình) trao đổi tại bài viết "Hai điểm yếu của nông nghiệp Việt Nam trong hội nhập quốc tế"  đăng trên báo Tia Sáng chuyên mục kinh tế. 

Cơ cấu cây trồng bất cân đối

Từ bao đời nay, lúa vẫn là cây nông nghiệp độc canh của Việt Nam, thu hút mức độ đầu tư rất cao về nhân sự, nghiên cứu, đất đai, cơ sở tổ chức, lao động và tài chính. Nhưng điểm yếu của phương thức độc canh này là dễ dàng phát sinh bệnh hại, dẫn đến việc phải phun xịt một lượng rất lớn thuốc bảo vệ thực vật, làm ô nhiễm nông sản và ảnh hưởng đến môi trường và sức khỏe của người sử dụng thuốc cũng như người tiêu dùng thực phẩm. Đồng thời, việc chú trọng quá nhiều vào lúa gạo cũng khiến nông nghiệp Việt Nam không thể khai thác hiệu quả nguồn lợi từ thị trường quốc tế dành cho một số nông sản khác, đặc biệt là rau củ quả - trên thế giới thị trường rau, hoa quả có giá trị lớn gấp 7 lần so với thị trường gạo.

Tình trạng bất cân đối cơ cấu cây trồng trên đây không chỉ do Việt Nam chưa có định hướng phát triển phù hợp với nhu cầu thực tế của thị trường thế giới, mà còn do người nông dân và các doanh nghiệp vẫn phải đối diện với nhiều rủi ro nên không dám đầu tư vào những ngành xuất khẩu đòi hỏi đầu tư công nghệ cao và có hệ thống như rau, hoa quả, chỉ tập trung sản xuất các mặt hàng nông phẩm thô như với lúa gạo, cà phê hay chè. Chính sách đất nông nghiệp chỉ cho phép sử dụng có thời hạn cũng làm tăng rủi ro cho người sử dụng đất, càng khiến các doanh nghiệp trong và ngoài nước không mặn mà với việc đầu tư có chiều sâu cho công nghệ cao trong nông nghiệp.

Vì vậy, kể cả sau khi gia nhập WTO, tổ chức thương mại có kim ngạch nhập khẩu nông sản trị giá hàng nghìn tỷ USD, Việt Nam đã xuất khẩu được nhiều hơn các sản phẩm gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, và sắn, nhưng lượng xuất khẩu các mặt hàng rau, hoa quả vẫn gần như ở mức yếu nhất.

Bảng 1. Thị trường nhập khẩu thế giới và một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ lực của Việt Nam. (Nguồn: FAO, http://unstats.un.org/unsd/default.htp)
Mặt hàng            
Thị trường nhập khẩu 
thế giới     2010, (triệu   USD)   

Xuất khẩu Việt Nam (triệu USD)
2006
2009
2010
2011
2012
Rau quả
     97.900,22
   300,00
    420,00
   411,50
    515,00
    770,00 
Hoa
     25.000,00
     10,00
      14,20
     60,00
     60,00
-
Lúa gạo
     16.818,18
 1,489,97
 2.600,00
3.230,00
 3.700,00
 3.700,00
Cà phê
       7.548,04
 1,911,46
 1.800,00
1.670,00
 2.300,00
 3.740,00
Cao su
       7.488,70
 1,400,00
 1.200,00
2.320,00
 2.700,00
 2.850,00   
Chè
       4.369,97
    130,83
    180,00
   200,00
    182,00
   243,00   
Hạt điều
       1.719,35
    653,86
    850,00
1.140,00
 1.400,00
 1.480,00
Sắn
-
-
-
-
   815,00 
 1.312,02
Hạt tiêu
       1.761,36
    271,01
    328,00
   390,00
    775,00
    802,00
Thế giới             
 1.361.853,00 
 8.300,00            
15.300,00
19.150,00
25.000,00
27.310,00
Nguồn: Thị trường năm 2009, Trade Vietnam; Thị trường năm 2009, FAO; Thị trường thế giới năm 2006; Hiệp hội Chè Việt Nam VITAS, 2012; www.caosu.net; Viện Khoa học Kỹ thuật Nông nghiệp miền Nam – www.iasvn.org; Dữ liệu của 10 tháng đầu năm 2011

Chuỗi ngành hàng không đồng bộ

Hiện nay chúng ta đã có một số thành công trong công nghệ cao về tạo giống và cải thiện trong phương pháp canh tác: đã có nhiều giống lúa, ngô, cà phê, v.v có năng suất cao, chống sâu bệnh tốt; đã có nhiều mô hình trồng rau dùng màn che, phủ luống, trồng cà phê áp dụng hệ thống tưới nhỏ giọt hoặc hệ thống tưới phun có hiệu quả; đã áp dụng chế phẩm sinh học EM (Effective Microoganisms) đại trà nhiều nơi để thay thế thuốc bảo vệ thực vật và phân bón vô cơ. Nhờ những công nghệ mới này mà lúa gạo đã được trồng trên những cánh đồng lớn, cơ giới hóa, đưa sản lượng tăng cao đáng kể, từ 19 triệu tấn năm 1990 lên 32 triệu tấn năm 2000 và 42 triệu tấn năm 2011.

Tuy nhiên, vì chưa xây dựng được chuỗi ngành hàng xuyên suốt và đồng bộ, nên khi sản lượng lúa gạo đạt đỉnh thì chúng ta gặp những khó khăn như thiếu kho tàng để tạm trữ lúa sau thu hoạch, thiếu nhà mát để lưu kho, thiếu cơ sở để chế biến, và quan trọng hơn hết là thiếu thị trường để tiêu thụ một lượng hàng “thô” dồi dào trong khi hoạt động chế biến còn rất hạn chế. Thêm vào đấy, nông dân vào thời điểm thu hoạch cũng đã hết tiền nên phải bán tháo để lấy vốn cho kỳ tới. Về cơ bản các hiệp hội về nông dân và nông nghiệp Việt Nam chưa giúp nông dân giải quyết những vấn đề này một cách hiệu quả.

Kết luận


Việc đầu tư và phát triển không đồng bộ trong chuyển giao công nghệ vào chuỗi ngành hàng, những hạn chế trong thành phần sản xuất và tổ chức quản lý, đặc biệt hạn kỳ sử dụng đất và thủ tục giấy tờ rườm rà ở nông thôn đã và đang làm nhiều mặt hàng xuất khẩu chủ yếu như lúa gạo, cà phê, cao su, hạt điều, hạt tiêu, trà, v.v, không ứng dụng được công nghệ cao, chất lượng thấp, và “được mùa” thì  “mất giá” – giá xuất khẩu chỉ đạt khoảng 50-60% giá trung bình thế giới. Trong khi đó, đất có thể canh tác của Việt Nam đã khai thác gần hết, người lao động ở nông thôn đã bỏ lên thành phố khá nhiều, và trong những năm tới năng suất trên một diện tích tuy sẽ vẫn tăng nhưng không ở mức đáng kể như mấy năm qua.

Vì vậy, để đột phá nông nghiệp Việt Nam chỉ có một con đường duy nhất, đó là áp dụng chính sách nông nghiệp/đất đai vì nông dân, xây dựng chuỗi ngành hàng, tích cực hỗ trợ việc đổi mới công nghệ và đưa công nghệ cao vào nông nghiệp, có như vậy mới tạo động lực để người nông dân và các doanh nghiệp linh hoạt điều chỉnh cơ cấu cây trồng, nâng cao chất lượng nông phẩm, thích nghi với nhu cầu của các thị trường và tình hình cạnh tranh ngày càng gay gắt trong kỷ nguyên hội nhập.

Nông sản trong thời đại WTO là sự tổng hợp của một chuỗi giá trị với sự kết hợp nhuần nhuyễn của ba khâu: i) kỹ thuật/công nghệ, ii) quy trình sản xuất nông nghiệp tốt, và iii) thành phần tham gia sản xuất. Nhưng Việt Nam chỉ mới phát triển tốt cho một vài khâu, chưa hình thành một chuỗi ngành hàng xuyên suốt, đồng bộ.

---

Australia có dân số khoảng 21,5 triệu người. Tuy lực lượng lao động trong nông nghiệp chỉ có khoảng 400.000 người, chiếm 4% lực lượng lao động nhưng chỉ số tự cung tự cấp về thực phẩm của Australia cao nhất thế giới. Sản lượng lương thực và vải vóc trung bình của mỗi người nông dân đủ để “nuôi” 190 người. Đây là con số kỷ lục, chưa có nông dân nước nào trên thế giới có thể sánh được, kể cả nông dân Mỹ.

Australia có chính sách kinh tế thị trường hướng đến xuất khẩu. Tuy nông nghiệp chỉ chiếm 3% GDP của cả nước, nhưng chính phủ Australia vẫn luôn có chủ trương giao việc cho nông dân, xem họ là thành phần chủ quản.  Vì nông dân là chủ thể của nông thôn nên thành phần này rất được chính phủ chú trọng trong công tác tuyên truyền, giáo dục, hỗ trợ về khoa học và công nghệ. Do vậy họ luôn cố gắng xây dựng một nền nông nghiệp bền vững có lợi cho ngành và toàn xã hội.

Ngoài ra nông dân Australia được khuyến khích thành lập Hiệp hội để quản lý ngành nghề của mình. Vì Hiệp hội là của nông dân, do nông dân thành lập nên đã thực sự giúp nông dân tổ chức tốt và quản lý hiệu quả dây chuyền sản xuất. Kiến thức rộng và kỹ năng cao của Hiệp hội đã hướng dẫn chính xác trong tính toán cung-cầu của thị trường trong và ngoài nước. Nông dân Australia do vậy không cần phải “chặt/trồng“ để theo đuôi thị trường, cũng không cần phải tiếp cận với thương lái trong những thương vụ mang tầm vĩ mô như xuất khẩu, nhập khẩu vì đã có Hiệp hội lo. Rất ít khi xảy ra cảnh “được mùa mất giá” vì thị trường luôn định hướng trước khi sản xuất. Thu nhập cao là điểm then chốt giúp nông dân Australia bám trụ, xây dựng nông thôn mới, và tiếp tục đưa nền nông nghiệp của quốc gia này tiến lên.

 
Tin Nông nghiệp Việt Nam


Video yêu thích   
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khaoch xanh, Dayvahoc,Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con
 
 

Lưu trữ

Dạy và học trực tuyến cây lúa



CÂY LƯƠNG THỰC. Mời các bạn tham gia lớp học trực tuyến Ngân hàng kiến thức trồng lúa (Vietnamese Rice Knowledge Bank) Trang tin điện tử về cây lúa của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Để tiết kiệm thời gian cho người học, chúng tôi đã tích hợp vào những trang FOOD CROPS, FOODCROPS.VN (Mời bạn bấm vào đây hoặc vào đây để đọc)

CÂY LÚA

CHƯƠNG TRÌNH HỌC TÍN CHỈ
(Biên soạn : TS. Hoàng Kim, 5 bài 1 tín chỉ )

I. Vị trí kinh tế của cây lúa
1.1 Vai trò của lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.2 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của lúa gạo
1.3 Phân loại, nguồn gốc,vùng phân bố, lịch sử phát triển
1.4 Sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

II. Sinh học cây lúa
2.1 Đặc điểm thực vật học của cây lúa
(rễ, thân, lá, hoa, bông, hạt)
2.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa
(nẩy mầm,/ mạ, đẻ nhánh, phát triển đốt thân, /
làm đòng, trổ bông, /làm hạt)
2.3 Đặc điểm sinh lý của ruộng lúa năng suất cao
2.3.1 Năng suất tối đa và dạng hình cây lúa lý tưởng
2.3.2 Quang hợp hô hấp, chế độ nước và mật độ trồng
2.3.3 Nhu cầu và dinh dưỡng khoáng của cây lúa
2.3.4.Những thiệt hại trên ruộng lúa nhiệt đới

III Khí hậu và đất lúa
3.1 Khí hậu: Ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, nguồn nước
3.2. Đất lúa Việt Nam vùng phân bố và tính chất đất cơ bản
3.3 Những vùng trồng lúa và các vụ lúa chính ở Việt Nam
3.4 Quản lý dinh dưỡng cho lúa theo vùng đặc thù
3.5 Biểu hiện cây lúa thiếu chất dinh dưỡng và bị ngộ độc

IV Giống lúa và công nghệ sản xuất giống
4.1 Các giống lúa tốt phổ biến ở Việt Nam
4.2. Đặc điểm sinh lý và di truyền của cây lúa
4.3 Tiêu chuẩn ngành về khảo nghiệm DUS và VCU giống lúa
4.4 Quy trình công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai

V. Kỹ thuật canh tác lúa
5.1 Mười biện pháp kỹ thuật chủ yếu canh tác lúa
5.2 Quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa thuần
5.3 Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai.
5.4 Việt GAP lúa khái niệm, ý nghĩa và quy trình

Xem tiếp tại http://fooccrops.vn/

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA
(Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Văn Tuất)

Cây lúa và sự phát triển
1. Tổng quan về cây lúa
2. Các thời kỳ và giai đoạn phát triển của cây lúa
3. Sự khác nhau giữa các giai đoạn phát triển của cây lúa
4. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa
5. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ mạ
6. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ đẻ nhánh
7. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực của cây lúa
8. Thời kỳ chín

Hạt giống
9. Hạt giống lúa
10. Các bộ phận của hạt giống lúa
11. Quá trình nảy mầm
12. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nước
13. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Không khí
14. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nhiệt độ
15. Vì sao phải ủ hạt giống
16. Vì sao phải chọn hạt giống tốt

Sự phát triển của cây mạ
17. Nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho sự phát triển của cây mạ
18. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: độ sâu của nước
19. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: lượng nước
20. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: nhiệt độ
21. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: cường độ ánh sáng
22. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: những chất dinh dưỡng dễ sử dụng
23. Cây mạ tốt có chiều cao cây phát triển đồng đều
24. Cây mạ tốt có bẹ lá ngắn
25. Cây mạ tốt phải không có sâu bệnh
26. Cây mạ tốt phải có nhiều rễ và khối lượng lớn

Cấy lúa
27. Vì sao phải cấy
28. Cấy bao nhiêu dảnh mạ trên một khóm
29. Vì sao phải cấy ở độ sâu thích hợp
30. Xén bớt lá mạ trước khi cấy nên hay không nên

Các bộ phận của cây lúa
31. Lá lúa
32. Thân lúa và sự tạo lóng
33. Rễ lúa
34. Nhánh lúa
35. Những yếu tố ảnh hưởng đến đẻ nhánh
36. Hoa lúa và sự thụ phấn, thụ tinh
37. Bông lúa và các giai đoạn hình thành hạt

Phân bón
38. Phân bón và bón phân cho cây lúa
39. Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón
40. Phân bón hữu cơ
41. Phân bón vô cơ
42. Phân đạm và hiệu suất phân đạm
43. Phân đạm và mùa vụ
44. Phân đạm và cách sử dụng để tăng hiệu quả
45. Phân đạm và cách bón đạm để tăng hiệu quả
46. Phân lân và hiệu suất phân lân
47. Phân kali và hiệu suất phân kali

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
48. Nước và đời sống cây lúa
49. Nhiệt độ và đời sống cây lúa
50. Ánh sáng và đời sống cây lúa
51. Các giai đoạn phát triển và yếu tố cấu thành năng suất

Côn trùng hại lúa
52. Sâu đục thân lúa 2 chấm
53. Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu
53 Sâu đục thân 5 vạch đầu đen
55. Sâu đục thân bướm cú mèo
56. Sâu cuốn lá nhỏ
57. Sâu cuốn lá lớn
58. Sâu gai
59. Rầy nâu
60. Rầy lưng trắng
61. Sâu cắn gié
62. Sâu năn
63. Sâu phao
64. Châu chấu
65. Bọ trĩ
66. Bọ xít dài
67. Bọ xít xanh
68. Bọ xít đen

Bệnh hại lúa
69. Bệnh đạo ôn
70. Bệnh khô vằn
71. Bệnh hoa cúc
72. Bệnh vàng lụi
73. Bệnh vàng lún và lùn xoắn lá
74. Bệnh bạc lá
75. Bệnh lúa von
76. Bệnh thối bẹ
77. Bệnh đốm nâu
78. Bệnh cháy bìa lá
79. Bệnh lem lép hạt