10/10/2009

Cây lương thực: điểm tin tổng hợp



CAYLUONGTHUC điểm tin tổng hợp có các tin chính: Về cơ cấu giống lúa tại duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên của TS. Lê Quý Tường; Việt Lai 50: Bước đột phá lúa lai Việt, bài viết của thạc sỹ Nguyễn Tuấn; Nhân, duy trì thành công hạt giống dòng mẹ Nhị 32A, bài viết của thạc sỹ Dương Thành Tài, Phó TGĐ Công ty Cổ phần Giống Cây Trồng Miền Nam (SSC); Qui trình bón phân viên nén cho lúa cấy, bài viết của Công Hào; Kỹ thuật hạn chế lúa lép, bài viết của Đỗ Quảng; Về giống ngô nếp King 80 của Công ty Monsanto Thailand; Giống ngô nếp lai đơn Wax 44 của Công ty TNHH Sygenta Việt Nam (ảnh tư liệu Hoàng Kim: Ruộng chọn tạo giống lúa lai của PGS.TS. Nguyễn Văn Hoan, Trường Đại học Nông nghiệp 1, Hà Nội

VỀ CƠ CẤU GIỐNG LÚA TẠI DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

TS. Lê Quý Tường

(BÁO NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM) Các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ (DHNTB) từ Đà Nẵng đến Bình Thuận có vị trí giao thông thuận lợi trên trục Quốc lộ 1A. Là vùng có thế mạnh về sản xuất Nông lâm thủy hải sản, nhưng chủ yếu vẫn là trồng trọt. Theo số liệu Niên giám thống kê năm 2008, diện tích lúa gieo sạ 524,9 nghìn ha; năng suất trung bình 49,5 tạ/ha. Tây Nguyên, diện tích lúa gieo sạ 211,7 nghìn ha; năng suất trung bình 44,3 tạ/ha.

So với cả nước, vùng DHNTB và Tây Nguyên diện tích lúa chỉ chiếm 9,9% tổng diện tích gieo cấy lúa; sản lượng lúa hàng năm đạt 3.529,9 nghìn tấn. Với dân số như hiện nay trên 14 triệu người, thì bình quân lương thực (lúa) chỉ đạt 252 kg/người/năm. Như vậy, hiện nay việc sản xuất lúa gạo ở vùng DHNTB và Tây Nguyên là để giải quyết đời sống tại chỗ cho người dân, góp phần an ninh lương thực cho vùng và Quốc gia.

Thực trạng cơ cấu giống lúa đang sử dụng gieo trồng trong vùng chủ yếu vẫn là giống lúa hạt bầu, hạt dài trung bình; có chất lượng gạo và cơm trung bình; một số giống có chất lượng gạo và cơm có khá hơn nhưng không nhiều như các giống lúa thường Xi23, NX30, X21, IR17494 (13/2), Q5, ĐB6, TBR1, ĐV108, ĐH99-81, ĐH815-6, TH1, BM9855, BM9820, Khang dân 18, Khang dân đột biến, ML48, ML49, TH41, ML202, ML68, OMCS2000, IR64, VND19-20, LC93-1, LC93-4; các giống lúa lai như Nhị ưu 838, B-TE1, Nghi hương 2308, TN15…

Tuy vậy, phần lớn các giống lúa chủ lực hiện đang gieo trồng trong vùng là những giống có nguy cơ nhiễm sâu bệnh cao. Theo kết quả đánh giá sâu bệnh trên các giống lúa hiện đang sản xuất tại vùng DHNTB và Tây Nguyên trong 2 năm 2007-2008 của Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia, đã phối hợp với Viện lúa đồng bằng sông Cửu Long và Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ đánh giá trong nhà lưới cho thấy các giống lúa nhiễm rầy nâu nặng như Ải 32 (cấp 9), ML48 (cấp 9), ML49 (cấp 9), BM9855 (cấp 9), BM9820 (cấp 9), KD 18 (cấp 9), HT1 (cấp 9); các giống nhiễm rầy nâu từ trung bình đến nặng gồm Xi23 (cấp 7-9), IR17494 (cấp 7- 9), Khang dân đột biến (cấp 7-9), VND19-20 (cấp 7), IR64 (cấp 7-9). Các giống nhiễm bệnh đạo ôn từ trung bình đến nặng IR17494 (cấp 7-9), ML48 (cấp 7-9), BM9855 (cấp 7-9), BM9820 (cấp 7-9), Ải 32 (cấp 7-9), KD 18 (cấp 7-9), Q5 (cấp 7-9), ĐH815-6 (cấp 7-9).

Trong thực tiễn sản xuất hiện nay sự bùng phát của dịch rầy nâu đã gây nên các bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá lúa đang diễn ra phức tạp không chỉ ở vùng đồng bằng sông Cửu Long mà đã lây lan ra các tỉnh Bắc bộ như Nam Định, Thái Bình, Hải Phòng, Ninh Bình và vùng Bắc Trung bộ như Nghệ An. Nếu các tỉnh DHNTB và Tây Nguyên không có biện pháp phòng tránh tốt thì nguy cơ bùng phát rầy nâu trên diện rộng đối với lúa trong vụ đông xuân 2009-2010 và hè thu 2010 dẫn đến xuất hiện bệnh vàng lùn và lùn xoắn lá lúa ở các giống lúa nhiễm rầy là khó tránh khỏi.

Để khắc phục một phần những hạn chế về cơ cấu giống lúa hiện nay tại các tỉnh trong vùng xin được gợi ý một số giải pháp sau đây:

- Giải pháp tình thế trước mắt trong vụ sản xuất đông xuân 2009-2010 đó là:

+ Không gieo cấy các giống nhiễm rầy nâu và bệnh đạo ôn nặng: Ải 32, ML49;

+ Tiếp tục sử dụng các giống lúa có nhiều ưu điểm tốt, nhưng nhiễm rầy nâu trung bình; nhiễm đạo ôn từ cấp nhẹ đến trung bình để gieo cấy như NX30, Xi23, Khang dân đột biến, Q5, ĐV108, IR64, VND19-20, LC93-1, LC93-4, Nhị ưu 838, Nghi hương 2308, BTE-1. Khảo nghiệm sản xuất và sản xuất thử các các giống lúa mới có triển vọng ĐT34, BM207, PC10, HT6, ML203 (lúa thường); BIO404, QH5, TH3-3, Vân hương 7 (lúa lai). Chú ý cơ cấu mỗi giống lúa không vượt quá 10-15% tổng diện tích gieo cấy lúa;

+ Dùng giống lúa có cấp chất lượng tốt để gieo cấy (cấp nguyên chủng, xác nhận và hạt lai F1). Tuyệt đốI không được sử dụng thóc ăn để làm giống;

+ Thực hiện thâm canh lúa theo "3 giảm, 3 tăng" để góp phần giảm chi phí đầu tư, tăng hiệu quả sản xuất lúa trong vùng;

+ Phòng trừ sâu bệnh theo nguyên tắc phòng là chính, khi cần sử dụng thuốc hóa học để trừ phải kịp thực hiện theo “4 đúng”: đúng thuốc, đúng lúc, đúng nồng độ, đúng liều lượng; đồng thời tập trung công tác dự tính dự báo và các biện pháp phòng trừ kịp thời sâu bệnh trên lúa.

- Về giải pháp lâu dài:

+ Cần thu thập khảo nghiệm tại các tỉnh trong vùng các giống lúa mới có khả năng kháng rầy nâu, kháng bệnh bạc lá và đạo ôn từ các vùng miền trong nước và nước ngoài; ưu tiên các giống lúa chất lượng có nguồn gốc từ các tỉnh phía Nam;

+ Tập trung chọn tạo các giống lúa có khả năng kháng sâu bệnh tại vùng DHNTB và Tây Nguyên;

+ Tập trung sản xuất 2 vụ/năm nhằm cắt đứt nguồn ký chủ lây truyền sâu bệnh đồng ruộng; đồng thời làm đất phơi ải để diệt trừ tận gốc nguồn lây bệnh;

+ Luân canh cây lúa với cây bộ đậu (lạc, đậu tương), cây ngô và cây rau màu khác để hạn chế sâu bệnh và giúp cải tạo đất lúa;

+ Cần quy hoạch các vùng sản xuất lúa giống tập trung, nhất là sản xuất hạt lai F1 theo qui mô công nghiệp để chủ động nguồn giống phục vụ sản xuất trong vùng.

Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/40871/Default.aspx

VIỆT LAI 50 BƯỚC ĐỘT PHÁ LÚA GẠO VIỆT

Th.S Nguyễn Tuấn

LUAGAO - Trong những năm gần đây diện tích gieo cấy lúa lai của Việt Nam ngày càng tăng. Theo báo cáo sơ kết của Cục Trồng trọt, diện tích lúa lai thương phẩm vụ đông xuân 2009 đạt 378.509 ha, chiếm 32,6% so với tổng diện tích lúa của miền Bắc. Vùng đồng bằng sồng Hồng đạt 142.246ha, chiếm 25% diện tích, một số tỉnh có diện tích tăng mạnh là Hải Dương tăng 4.564ha, Bắc Ninh tăng 6.395ha, Nam Định tăng 6.390ha…Hàng năm nhu cầu cần 15.000 – 18.000 tấn giống lúa lai để phục vụ sản xuất đại trà, trong đó Việt Nam đã chủ động 30%, còn lại nhập khẩu từ Trung Quốc.

Có được kết quả trên do có chủ trương đúng đắn của các cấp, các ngành từ Trung ương tới địa phương, nhất là có sự đóng góp to lớn của các nhà khoa học trong lĩnh vực nghiên cứu chọn tạo giống lúa lai. Đối với lúa lai 3 dòng, tổng kết cho thấy sản xuất hạt lai F1 năng suất thường thấp, chất lượng không cao vì vậy giá thành không hạ là mấy so với lúa nhập khẩu, vì vậy các nhà khoa học tập trung vào nghiên cứu chọn tạo các tổ hợp lúa lai 2 dòng.

Đến nay chúng ta đã rất thành công trong lĩnh vực này, nhiều tổ hợp lúa lai hai dòng đã được công nhận như TH3-3, TH3-4, VL20, VL24… được đưa vào cơ cấu giống của nhiều tỉnh, nông dân ưa chuộng vì chất lượng gạo khá lại ngắn ngày. Nổi bật giống TH3-3 đã sang nhượng bản quyền với giá kỷ lục 10 tỷ đồng, tạo tiếng vang lớn, là động lực để các nhà khoa học tiếp tục nghiên cứu chọn tạo các tổ hợp lúa lai mới. Các tổ hợp lúa lai 2 dòng của Việt Nam đa phần đáp ứng được các mục tiêu: dễ sản xuất hạt lai F1 với năng suất trung bình 2,5 – 3 tấn/ha, chi phí thấp hơn hẳn so với sản xuất hạt lai F1 lúa lai ba dòng. Lúa lai thương phẩm có khả năng chống chịu sâu, bệnh và điều kiện bất thuận khá, năng suất và chất lượng khá cao, đặc biệt hầu hết đều là giống ngắn ngày.

Một số kết quả khảo nghiệm cho thấy giống Việt Lai 50 là giống ngắn ngày, tiềm năng năng suất cao, thích hợp cho việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tăng vụ; có thể gieo ở xuân muộn, xuân cực muộn (chân trồng cây vụ đông muộn đến cuối tháng 2 dương lịch) đặc biệt là vụ mùa sớm để trồng cây vụ đông ưa ấm có giá trị kinh tế cao.

Việt Lai là một thương hiệu lúa lai hai dòng của Viện Nghiên cứu Lúa - Đại học Nông nghiệp Hà Nội. Việt Lai 20 do PGS - TS Nguyễn Văn Hoan - Giám đốc Viện Nghiên cứu Lúa chọn tạo, là giống lúa lai hai dòng được Bộ Nông nghiệp & PTNT đưa vào danh sách giống lúa được phép sản xuất kinh doanh, cũng là giống lúa lai đầu tiên sang nhượng bản quyền sản xuất. Nối tiếp thành quả đó, Viện tiếp tục chọn tạo thành công giống Việt Lai 24, đây là giống lúa lai có khả năng chống bạc lá rất tốt, ngắn ngày (thời gian sinh trưởng trong vụ mùa 92 - 97 ngày) được đặc cách công nhận giống để đưa vào phục vụ sản xuất trong vụ xuân muộn và mùa sớm, nhất là chân đất trồng cây vụ đông sớm. Nông dân đánh giá cao hai giống trên bởi nhiều ưu điểm: ngắn ngày, chống bạc lá, năng suất, chất lượng khá, tuy nhiên cả hai giống đều thuộc loại hình bông không to, số hạt trên bông không nhiều, tiềm năng năng suất hạn chế.

Khắc phục nhược điểm, PGS - TS Nguyễn Văn Hoan cùng cộng sự đã nghiên cứu thành công giống lúa lai hai dòng thế hệ mới: Việt lai 50 (VL50). Theo báo cáo tổng kết của Viện Nghiên cứu Lúa - ĐH Nông nghiệp HN, kết quả khảo nghiệm giống VL50 năng suất bình quân 70 tạ/ha, cao nhất là ở tỉnh trung du miền núi như Phú Thọ, Bắc Giang, năng suất đạt 75 – 80 tạ/ha, thời gian sinh trưởng trong vụ xuân phía bắc chỉ 115 – 120 ngày, đẻ nhánh trung bình, thuộc loại hình bông to, nhiều hạt, trung bình 250 – 300hạt/bông.

Theo PGS - TS Nguyễn Văn Hoan, VL50 là giống lúa có kiểu xếp hạt đặc biệt, hạt nọ xếp chồng hạt kia nên bông tuy không dài hơn nhiều giống lúa lai khác nhưng số hạt trên bông lại có thể cao gấp 1,5 lần chính vì vậy tuy thời gian sinh trưởng ngắn nhưng tiềm năng năng suất của giống VL50 rất cao. Trong thời gian tới ngoài việc nâng cao độ thuần của giống Viện sẽ bố trí thí nghiệm nhằm hoàn thiện quy trình thâm canh giống VL50 ở từng vùng sinh thái như áp dụng phương pháp cấy hàng rộng hàng hẹp, cấy mạ non, cấy mật độ 40 khóm/m2, 2 – 3 dảnh cơ bản/khóm (do VL 50 khả năng đẻ nhánh trung bình) đưa số bông/m2 đạt khoảng 300 bông thì mới khai thác tối đa tiềm năng năng suất giống.

Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/67/67/38525/Default.aspx

NHÂN DUY TRÌ THÀNH CÔNG HẠT GIỐNG DÒNG MẸ NHỊ 32A

ThS. Dương Thành Tài, Phó TGĐ Công ty CP Giống Cây Trồng Miền Nam (SSC)

LUAGAO - Dòng bất dục đực Nhị 32A là dòng mẹ lúa lai có nhiều đặc điểm tốt, được sử dụng để lai tạo nhiều giống lúa lai ở Trung Quốc và ở nước ta.

Dòng Nhị 32A có tính thích nghi rộng, chống chịu được các điều kiện bất thuận cao, dễ sản xuất hạt lai F1, khả năng phối hợp tốt và cho ưu thế lai cao. Các giống lúa lai có Nhị 32A làm mẹ chiếm khoảng 20% diện tích trồng lúa lai của Trung Quốc và 60% diện tích trồng lúa lai của Việt Nam. Hàng năm chúng ta phải nhập khẩu của Trung Quốc từ 6.000-8.000 tấn hạt giống lúa lai hệ Nhị ưu, phần lớn là giống Nhị ưu 838. Do đó nhân giống được dòng mẹ Nhị 32A, duy trì được tính bất dục ổn định của dòng này có ý nghĩa quan trọng đối với chủ trương tự túc 70% nhu cầu hạt giống lúa lai của Bộ NN-PTNT

Tự túc hạt giống lúa lai hệ Nhị ưu là một bài toán khó. Chính phủ Trung Quốc không cho phép xuất khẩu các dòng bố mẹ. Các công ty trong nước muốn sản xuất hạt giống lúa lai Nhị ưu 838 phải nhập khẩu bất hợp pháp dòng mẹ Nhị 32A, giá rất đắt, không chủ động cả khối lượng và chất lượng.

Nhưng nhân duy trì hạt giống dòng Nhị 32A lại là một việc khó khăn hơn. Ở Trung Quốc vùng Tứ Xuyên là vùng thích hợp nhất để nhân dòng Nhị 32A có chất lượng tốt. Xuôi về phía nam, ở Quảng Đông hay đảo Hải Nam dòng Nhị 32A dễ mất tính bất dục, tỉ lệ hữu dục có thể lên đến 40% nếu gặp ngày ngắn có 12 giờ chiếu sáng hay nhiệt độ trung bình ngày cao hơn 26oC (theo nghiên cứu của Sở Nghiên cứu Lúa thuộc Viện Khoa học Nông nghiệp Quảng Đông). Do đó nhiều cơ quan nghiên cứu trong nước ta đã nghiên cứu nhân duy trì dòng Nhị 32A nhưng chưa thật sự thành công.

Muốn duy trì dòng Nhị 32 A cần phải có đủ 2 điều kiện:

1) Có dòng Nhị 32B đẳng gene (hoàn toàn giống dòng Nhị 32A nhưng hữu dục) để lai với dòng Nhị 32A tạo ra đời con là dòng Nhị 32A bất dục trở lại nhưng với khối lượng nhân lên lớn hơn.

2) Dòng Nhị 32B phải duy trì được tính bất dục của dòng Nhị 32A trong điều kiện nóng của Việt Nam (nhiệt độ bình quân ngày 27oC).

Từ năm 2001 Cty Cổ phần Giống cây trồng Miền Nam (SSC) đã thu thập nhiều nguồn giống của dòng mẹ Nhị 32A như của Trung tâm nghiên cứu lúa lai Trung Quốc ở Hồ Nam, của Trường Đại học Nông nghiệp Tứ Xuyên và một số công ty giống của Trung Quốc để tìm dòng Nhị 32B thỏa mãn được hai điều kiện trên. Đến năm 2005 tổng cộng có trên 2.000 cặp lai (giữa các cá thể Nhị 32B phân lập được và dòng mẹ Nhị 32A) được gieo trồng lặp lại nhiều vụ để khảo sát và đánh giá độ ổn định tính bất dục đời sau ở hai vùng sinh thái đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên.

Sự nỗ lực và kiên trì của tập thể nghiên cứu lúa lai của SSC đã được đền bù. Dòng Nhị 32B có đặc điểm như mong muốn đã được tìm ra. Làm phép so sánh t-test trong các thí nghiệm so sánh với dòng mẹ Nhị 32A nhập từ Trung Quốc cho thấy dòng Nhị 32A nhân duy trì với dòng Nhị 32B của SSC hoàn toàn giống nhau về các đặc điểm hình thái nông học và ưu thế lai. Giống lúa lai Nhị ưu 838 sử dụng dòng mẹ Nhị 32A của SSC hoàn toàn giống giống lúa lai Nhị ưu 838 nhập từ Trung Quốc và cho năng suất tương đương.

Điều này đã được thực tế sản xuất khẳng định, vì từ năm 2005 đến nay SSC hoàn toàn tự túc được dòng mẹ Nhị 32A để sản xuất hạt giống lúa lai Nhị ưu 838, không phải nhập dòng mẹ từ Trung Quốc. Đến nay đã có hơn 20 tấn hạt giống Nhị 32A được SSC nhân giống để sản xuất ra 572 tấn hạt giống lúa lai Nhị ưu 838. Giống lúa lai Nhị ưu 838 SSC đã trở thành thương hiệu tin cậy của bà con nông dân ở nhiều tỉnh thành miền Bắc, Tây Nguyên và Duyên hải miền Trung. Từ năm 2007 SSC cũng đã cung ứng hạt giống dòng mẹ Nhị 32A cho Cty CP Giống cây trồng Quảng Nam và được phản hồi rất tốt, thậm chí nhiều bà con nông dân Quảng Nam còn đạt được năng suất lúa thịt cao hơn so với giống Nhị ưu 838 nhập khẩu từ Trung Quốc .

Việc nhân duy trì thành công hạt giống dòng mẹ Nhị 32A trong điều kiện ngày ngắn và nhiệt độ trung bình ngày 27oC là chìa khóa để mở rộng cánh cửa tự lực sản xuất hạt giống lúa lai trong nước.

Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/39536/Default.aspx

QUY TRÌNH BÓN PHÂN NÉN CHO LÚA CẤY

LUAGAO - Hỏi: Tôi đọc báo thấy nói ở Yên Bái triển khai dự án xây dựng mô hình bón phân viên nén dúi sâu trong thâm canh lúa trên diện rộng cho hiệu quả rất cao, năng suất lúa tăng mà lại tiết kiệm chi phí, công lao động. Xin quí báo cho biết về loại phân này và hướng dẫn cách sử dụng? (Lò Văn Ban, xã Bình Xa, huyện Hàm Yên, tỉnh Tuyên Quang)

Trả lời: Được Tổ chức Codespa (Tây Ban Nha) tài trợ kinh phí, vụ xuân năm 2009 vừa qua Hội phụ nữ Yên Bái phối hợp với Sở NN-PTNT tỉnh Yên Bái và Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội triển khai dự án “Sử dụng phân bón viên nén dúi sâu trong kỹ thuật thâm canh lúa” trên diện rộng (17 xã thuộc 5 huyện: Trấn Yên, Yên Bình, Văn Yên, Văn Chấn và thị xã Nghĩa Lộ) đưa lại hiệu quả kinh tế cao.

Đáp ứng yêu cầu của bạn, chúng tôi đã tìm gặp Thạc sĩ Chu Anh Tiệp, một trong những tác giả của loại phân viên nén mới này để biết thêm thông tin. Thạc sĩ Tiệp cho biết: Phân bón viên nén NK dùng cho cây lúa do Bộ môn Thủy nông-Canh tác (Khoa Đất-Môi trường-Trường ĐH Nông nghiệp Hà Nội) nghiên cứu, sản xuất đã được sử dụng rộng rãi ở nhiều địa phương đưa lại hiệu quả kinh tế cao.


Đây thực chất là một loại phân chậm tan mà nguyên tắc sản xuất là sử dụng các chất phụ gia có khả năng giữ phân lâu hơn, làm cho phân tan từ từ, vừa đủ cho cây hút, vừa có đủ dinh dưỡng mà không bị ngộ độc, không bị mất mát do bị rửa trôi hay bốc hơi. Khi bón phân thúc cho lúa, thay vì bón vãi như trước đây, viên phân được dúi sâu trong bùn. Theo cách bón này, dinh dưỡng trong viên phân tan từ từ theo nhu cầu của cây lúa theo từng thời kỳ nên vừa tiết kiệm được cả công, vật tư mà hiệu quả lại cao hơn nhiều.

Kết quả thực tế ở Yên Bái trong vụ xuân vừa qua và nhiều địa phương khác khi sử dụng phân viên nén dúi sâu cho thấy: tiết kiệm được 30-35% lượng đạm so với cách bón vãi thông thường. Chỉ bón dúi 1 lần cho cả vụ, đơn giản, dễ làm và chủ động trong sản xuất (không phù thuộc vào thời tiết); làm giảm và hạn chế cỏ dại sâu bệnh, tiết kiệm được công lao động, chi phí, giảm tác hại đối với môi trường; giúp tăng năng suất lúa từ 10-20% so với cách bón phân vãi.

Qui trình kỹ thuật sử dụng phân viên nén NK dúi sâu bón cho lúa cấy:

- Chuẩn bị ruộng cấy: Yêu cầu cày bừa làm đất như với ruộng cấy lúa bình thường, bừa càng phẳng mặt ruộng thì càng dễ quản lý mực nước, cấy và dúi phân nhanh. Bón lót từ 200-300kg phân chuồng hoai và 10-15kg phân lân Văn Điển hoặc supe Lâm Thao cho 1 sào Bắc bộ (360m2) trước khi cấy như bón phân thông thường. Luôn giữ mực nước trong ruộng từ 3-5cm từ lúc cấy cho đến khi bón phân.
- Cấy lúa: Cấy thẳng hàng, đúng mật độ, khoảng cách. Nên cấy lúa theo từng luống cách nhau 25cm để thuận tiện cho việc áp dụng kỹ thuật bón phân viên nén dúi sâu sau này. Mỗi luống gồm có 8 hàng lúa theo khoảng cách: 20cm x 20cm (hàng cách hàng 20cm, khóm cách khóm 20cm), nếu đất tốt có thể cấy thưa hơn với khoảng cách 21-22cm x 21-22cm. Cấy đúng tuổi mạ (có 3-4 lá thật); cấy nông tay, mỗi khóm từ 1-2 dảnh. Nếu ruộng tốt, giống đẻ nhánh khỏe thì chỉ nên cấy 1dảnh/khóm.

- Kỹ thuật bón (dúi) phân viên nén NK:

+ Bón tốt nhất là ngay sau khi cấy, thời gian bón càng ngắn càng tốt (vụ xuân từ 1-5 ngày, vụ mùa từ 1-3 ngày).
+ Cách bón: Bỏ sẵn phân viên vào 1 cái túi đeo bên mình, mỗi người đi 1 hàng bón dúi cho 2 hàng bên cạnh (cách 1 hàng bón dúi cho 1 hàng, cứ 4 khóm lúa bón dúi 1 viên phân nén NK). Một tay luôn để khô để lấy phân đưa qua tay kia dúi sâu 6-8cm so với mặt ruộng (ngập hết 2 ngón tay cầm viên phân là vừa). Sau khi dúi xong, dùng tay gạt nhẹ một lớp bùn mỏng phủ kín viên phân.
+ Lượng bón: Tùy theo mật độ cấy mà có thể bón từ 9,0-9,5kg/sào Bắc bộ.
Một số điểm lưu ý khi bón phân viên nén NK để đạt hiệu quả cao nhất:
- Cấy lúa thẳng hàng để dúi phân nhanh, dễ dúi, dúi đúng vị trí và đảm bảo mật độ sẽ giúp cây lúa sinh trưởng nhanh, đồng đều, đẻ nhánh khỏe và tập trung, cho năng suất cao.
- Trong vòng 20-25 ngày sau khi dúi phân không được bước vào vị trí đã dúi phân để không làm xê dịch viên phân. Các công việc chăm sóc (làm cỏ, phun thuốc…) được thực hiện ở các hàng công tác không có dúi phân giữa 2 hàng có dúi phân.
- Không dúi viên phân quá nông (<5cm)>10cm); phủ kín để tránh phân bị bốc hơi; không bón phân viên nén cho các loại đất có thành phần cơ giới nhẹ như đất cát hoặc đất cát pha.

Khi bón phân viên nén dúi sâu sẽ thấy hiện tượng cây lúa sinh trưởng chậm hơn so với phương pháp bón phân gieo vãi từ 5-8 ngày. Để khắc phục tình trạng này bà con nên bón vãi trên mặt ruộng trước khi cấy 0,5kg urê/sào Bắc bộ sẽ giúp cây lúa sinh trưởng bình thường. Có thể kết hợp rắc hoặc phun thuốc trừ cỏ cho ruộng lúa ngay sau khi bón phân viên nén NK dúi sâu.

Công Hào
Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/37538/Default.aspx

KỸ THUẬT HẠN CHẾ LÚA LÉP

LUAGAO - Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến lúa lép trong vụ lúa hè thu, nhưng phải nói rằng sự đổ ngã là nguyên nhân chính và gây lép nhiều nhất. Tỷ lệ lép nhiều hay ít tùy thuộc vào ruộng lúa bị đổ ngã vào các thời kỳ sinh trưởng khác nhau của cây lúa. Nếu ruộng lúa bị đổ ngã ở thời kỳ trước và ngay sau khi trổ bông thì tỷ lệ lép rất cao và năng suất lúa sẽ giảm rõ rệt. Mặt khác, ruộng lúa bị đổ ngã, việc thuê mướn công cắt cũng khó khăn và giá cao hơn so với ruộng lúa đứng, dẫn đến làm tăng giá thành sản xuất lúa.

Những nguyên nhân dẫn đến lúa bị lép là:

- Do người sản xuất áp dụng các yếu tố kỹ thuật không phù hợp như gieo sạ với mật độ quá dày, bón phân mất cân đối giữa đạm lân và kali, chủ yếu là bón quá nhiều phân đạm ở giai đoạn cuối làm cho cây lúa phát triển lá quá mạnh, thân cây lúa bị yếu sẽ dẫn đến đổ ngã, bông lúa trổ ra bị ngâm dưới nước sẽ bị hư hoặc đè lên nhau sẽ không thụ phấn được làm cho hạt lúa bị lép.

- Do tác động của các yếu tố ngoại cảnh như mưa to, gió lớn. Lúa trổ ra mà gặp cơn bão thì tỷ lệ lép sẽ rất cao, thời tiết quá nóng, quá lạnh, trời âm u không có nắng cũng làm cho khả năng thụ phấn kém, dẫn đến hạt lúa bị lép.

- Do giống: Có những giống lúa thường hay có tỷ lệ hạt lép cao trong vụ hè thu như IR64, Jasmin85. Những giống thường cho tỷ lệ hạt lép thấp trong vụ hè thu như OM4498, OM2517… Những giống lúa cao cây sẽ hay bị đổ ngã trong vụ hè thu làm tăng tỷ lệ hạt lép.

- Do sâu bệnh: Vào thời kỳ lúa trổ thường hay bị các loại sâu bệnh như sâu cuốn lá, bệnh đạo ôn trên lá, đạo ôn cổ bông. Ruộng lúa bị hại nặng bởi các loài dịch hại này sẽ làm lúa lép rất nhiều.

Tìm hiểu và nắm được nguyên nhân gây ra lúa lép ở cây lúa, chúng ta sẽ đưa ra được những giải pháp hữu hiệu nhằm giảm tỷ lệ hạt lép của lúa một cách chủ động, trên cơ sở đó sẽ giữ vững được năng suất. Các biện pháp cụ thể để hạn chế đổ ngã là:

+ Sử dụng các giống lúa cứng cây: Trong vụ hè thu đa số các giống lúa cao sản ngắn ngày đều có rạ cứng như OM4498, CS2000, OM2517… Những giống lúa thơm, lúa dài ngày, lúa mùa thường cao cây và yếu rạ.

+ Bố trí thời vụ thích hợp: Vụ hè thu ở ĐBSCL, vào các tháng 10, 11 thường hay có mưa to kéo dài và lũ lụt vì vậy cần bố trí mùa vụ hợp lý để thu hoạch trước khi lũ về.

+ Làm đất thật kỹ khi xuống giống nhằm cho bộ rễ phát triển mạnh sẽ giúp cây lúa cứng cây hơn.

+ Áp dụng các biện pháp sạ thưa như sạ theo hàng, lượng giống sạ từ 100-120 kg lúa/ha để đảm bảo độ thông thoáng trong ruộng lúa sẽ giảm được sâu bệnh.

+ Cần bón phân cân đối giữa các loại phân là đạm, lân và kali. Bón đạm nên bón theo bảng so màu lá vừa đáp ứng được nhu cầu sinh trưởng của cây lúa, vừa không gây lãng phí phân đạm. Chú ý bón phân kali sẽ làm cây lúa cứng cáp hơn.

+ Thăm đồng thường xuyên, khi phát hiện có sâu bệnh tới ngưỡng gây hại thì cần xử lý ngay. Trước và sau khi lúa trổ nên phun thuốc Till Supfer sẽ phòng trừ được một số loại bệnh và làm tăng độ phì hạt lúa, màu sắc lúa sáng bóng.

+ Điều tiết nước trong ruộng lúa, tốt nhất nên tháo cạn nước ruộng trước khi cây lúa vào giai đoạn làm đòng, vừa tạo điều kiện thông thoáng ruộng lúa, vừa làm cho bộ rễ phát triển ăn sâu vào đất. Thời gian rút nước khoảng 7 ngày, sau đó cho nước vào và khống chế mức nước ở mức 5-10 cm cho đến khi lúa chín. Rút hết nước trước khi thu hoạch lúa 10 ngày.

Đỗ Quảng

Nguồn: http://nongnghiep.vn/nongnghiepvn/vi-VN/61/158/45/45/45/39474/Default.aspx

VỀ GIỐNG NGÔ NẾP KING 80

Hỏi: Hiện nay ở quê tôi nhiều người mua và trồng giống ngô nếp King 80 cho hiệu quả kinh tế rất cao. Tôi cũng muốn trồng theo nhưng còn băn khoăn về giống và khả năng tiêu thụ. Xin quí báo cho biết kỹ hơn về giống ngô mới này: Giống đã được công nhận chưa? Cách trồng có gì mới so với các giống ngô khác? Nếu trồng nhiều thì có nơi nào mua lớn không? Có thể liên hệ mua giống ở đâu cho bảo đảm?

Trả lời: Để giải đáp những băn khoăn của bạn về giống ngô nếp King 80, chúng tôi đã làm việc với Văn phòng đại diện công ty Monsanto Thái Lan tại Việt Nam, chủ nhân của giống ngô nếp mới này. Cán bộ công ty, KS. Đoàn Thế Hùng cho biết: King 80 là giống ngô nếp lai đơn do Cty Monsanto Thái Lan lai tạo thành công năm 2005 từ tổ hợp lai SwcB 5-2780/SwcA 5-7290, được nhập nội và đăng ký trong mạng lưới khảo nghiệm Quốc gia từ năm 2007 đến nay.

Giống ngô nếp mới này đã được khảo nghiệm cơ bản và diện rộng về tính khác biệt, tính đồng nhất, tính ổn định (DUS) và đánh giá giá trị canh tác, giá trị sử dụng (VCU) tại Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia và Trung tâm khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón phía Nam; được trồng thử nghiệm nhiều vụ liền trên một số vùng trồng ngô trọng điểm của nước ta như: An Giang, Bà Rịa-Vũng Tàu, Đồng Nai, Tây Ninh (phía Nam), Hưng Yên, Hải Dương, Hà Nam, Hà Nội, Vĩnh Phúc, Bắc Ninh, Bắc Giang (phía Bắc).

Tháng 11/2008 giống được Bộ NN-PTNT ra quyết định công nhận là giống tạm thời, đưa vào sản xuất thử và ngày 3/9/2009 vừa qua Bộ đã ra quyết định số 317 QĐ/TT-CLT công nhận giống ngô nếp King 80 của Cty Monsanto Thái Lan là giống quốc gia và cho phép đưa vào sản xuất đại trà trên phạm vi cả nước bắt đầu từ vụ đông năm 2009 vì những ưu điểm vượt trội so với các giống ngô nếp khác. Tất cả các Sở NN-PTNT tham gia trồng khảo nghiệm giống ngô nếp King 80 vừa qua đều khẳng định những ưu điểm vượt trội và quyết định đưa vào cơ cấu giống sản xuất của địa phương, đặc biệt là vụ đông.

Đặc tính giống: Thời gian sinh trưởng trung bình 87-110 ngày để thu bắp già, từ trồng cho đến thu bắp tươi từ 58-63 ngày (tùy điều kiện canh tác và mùa vụ); có thể kéo dài thời gian thu hoạch 3-4 ngày mà chất lượng không giảm. Cây sinh trưởng khỏe, độ đồng đều cao, tán lá gọn, chiều cao cây trung bình 172-180cm, chiều cao đóng bắp thấp 60-65cm nên khả năng chống đổ tốt. Trái dài 16-18cm, khối lượng bình quân 300-350 g/trái, dạng trái nù, lá bi bao kín đầu trái, tỷ lệ trái đạt loại 1 cao 75-80%. Năng suất bắp tươi đạt 15-17 tấn/ha. Hạt trắng sữa, ăn mềm, dẻo, thơm đặc trưng, thích hợp cho ăn tươi và chế biến bắp đông lạnh xuất khẩu.

Một số lưu ý: Ngoài kỹ thuật trồng ngô thông thường, bà con cần lưu ý một số điểm khi trồng giống King 80: Vì là giống ngắn ngày nên có thể trồng liên tục nhiều vụ quanh năm trên đất tưới tiêu chủ động. Tuy nhiên cần tính toán thời gian để tránh bắp trỗ cờ, phun râu vào lúc trời quá nóng (trên 37oC) hoặc quá lạnh (dưới 15oC). Trồng cách ly không gian và thời gian với các giống dùng cho chăn nuôi và bắp ngọt để đảm bảo chất lượng. Trồng khoảng cách 30cmx70cm, đảm bảo mật độ 4.500-4.600 cây/1.000m2. Mỗi công (1.000m2) cần 0,9-1kg hạt giống. Là giống ngắn ngày nên cần chú ý bón thúc sớm và gọn (lần 1 sau trồng 7-10 ngày, lần 2 sau trồng 15-17 ngày, lần cuối sau trồng 25-28 ngày).

Khả năng tiêu thụ: Hiện nay các tỉnh phía Bắc trồng King 80 để lấy bắp ăn tươi dưới dạng quà như luộc, nướng… nhất là các tháng trái vụ cho thu nhập khá cao. Chúng tôi được biết ở phía Nam có Công ty TNHH MT (Cụm công nghiệp Tân Mỹ Chánh, TP. Mỹ Tho, Tiền Giang, ĐT: 073. 3951690) hiện đang liên doanh với nhiều địa phương trồng giống bắp King 80 để xuất khẩu sang thị trường Mỹ, Canada dưới dạng bắp hấp nguyên trái đông lạnh rất có giá trị.

Theo bà Trần Thị Hiền, PGĐ công ty, chỉ có bắp Chợ Gạo - Tiền Giang (giống bắp nếp King 80) mới làm được bắp hấp chân không nguyên trái đông lạnh nên Cty đang cần rất nhiều nguyên liệu nhưng chưa đáp ứng đủ. Trung bình mỗi tháng Cty xuất sang thị trường Mỹ gần 100 tấn nông sản các loại, trong đó có 50.000 trái bắp. Bạn có thể liên hệ với địa chỉ trên đây để ký kết hợp đồng liên doanh trồng và tiêu thụ sản phẩm.

Xin liên hệ với: Công ty TNHH Chánh Nông (846 Hưng Phú, P.10, Q.8, TP. Hồ Chí Minh, ĐT: 08.39540257) hoặc các đại lý hạt giống của Cty trên phạm vi cả nước để mua giống và được tư vấn thêm về kỹ thuật.

Nguyên Khê
(Nguồn: Báo Nông nghiệp Việt Nam số ra ngày 24/9/2009)


GIỐNG NGÔ LAI ĐƠN WAX 44

FOODCROPS. Giống ngô nếp lai đơn Wax 44 có diện tích trồng ngày càng tăng do đem lại hiệu quả kinh tế cao cho người nông dân trồng ngô. Giống được công nhận chính thức từ năm 2006 và được bảo hộ bản quyền của Cty TNHH Sygenta Việt Nam.

Hiện nay Wax 44 phát triển tập trung thành vùng hàng hóa ở các huyện ngoại thành Hà Nội như Đông Anh, Mê Linh, Gia Lâm, Sóc Sơn, Quốc Oai, Hoài Đức và một số địa phương như: Vĩnh Tường – Vĩnh Phúc, Thái Nguyên, Hưng Yên, Hải Dương, Ninh Bình, Tuyên Quang, Yên Bái… cơ bản thay thế các giống ngô nếp địa phương hiệu quả kinh tế thấp.

Với ưu thế vượt trội về thời gian sinh trưởng ngắn, độ đồng đều cao, khả năng chống chịu điều kiện thời tiết bất thuận và sâu bệnh tốt, từ đầu năm 2009 đến tháng 8/2009 tổng diện tích Wax 44 phục vụ thị trường miền Bắc đã lên đến 3.000ha. Dự kiến trong vụ đông năm 2009, Cty Syngenta Việt Nam tiếp tục triển khai mô hình và cung ứng giống phục vụ sản xuất tại các tỉnh như: Hà Nội, Hải Dương, Tuyên Quang, Ninh Bình, Hưng Yên, Vĩnh Phúc…

Tại Hưng Yên, từ vụ thu đông năm 2006, Sở NN - PTNT phối hợp với Cty Syngenta thực hiện mô hình trình diễn giống ngô nếp lai Wax 44, diện tích 3 sào, theo đó công ty hỗ trợ tiền giống, thuốc bảo vệ thực vật; xã hỗ trợ mỗi sào 100.000 đ để nông dân mua phân bón chăm sóc kịp thời cho ngô, cán bộ phòng Trồng trọt của Sở phối hợp với cán bộ kỹ thuật của công ty thường xuyên theo dõi, chỉ đạo nông dân chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh cho ngô kịp thời.

Kết quả cho thấy giống ngô nếp lai đơn Wax 44 có thời gian sinh trưởng ngắn, trong vụ hè thu từ trồng đến thu hoạch 60 - 62 ngày, nếu không gặp mưa bão, rét sớm thì thời gian sinh trưởng có thể ngắn hơn, khả năng chịu úng, phục hồi sau ngập úng tốt, nhiều khu ruộng trồng ngô do mưa bão bị ngập 4-5 ngày nhưng ngô hồi phục rất nhanh.

Giống ngô nếp lai đơn Wax 44 có độ đồng đều rất cao, tỷ lệ đậu bắp 100%, không có hiện tượng ngô không có bắp hoặc bắp không hạt, tỉ lệ bắp loại 1 chiếm trên 95%, hạt đóng phủ cùi, không có hiện tượng đuôi chuột, chất lượng tốt được thị trường ưa chuộng. Theo chị Nguyễn Thị Hiền - người trực tiếp trồng ngô cho biết tuy mới trồng lần đầu nhưng khi đem ra chợ bán nhìn màu sắc và dạng hình bắp người tiêu dùng rất ưa chuộng với giá bán lẻ 5.000đ/kg bắp, trung bình 4 bắp/kg, mỗi sào thu được 1.700 - 1.800bắp, cho thu khoảng 2.000.000đ, thực lãi khoảng 1.500.000đ - 1.700.000đ (chỉ sau 60 ngày gieo trồng), ngoài ra khi thu hoạch bắp thân lá vẫn còn xanh, nông dân bán thân ngô làm thức ăn cho trâu bò, mỗi sào được 100.000 - 120.000đ, so với một số hộ trồng ngô nếp địa phương, ngô nếp VN2, thì trồng ngô nếp lai Wax44 cho hiệu quả kinh tế hơn hẳn.

Từ kết quả trên, Sở NN - PTNT Hưng Yên đã tham mưu với UBND tỉnh hỗ trợ giống ngô nếp Wax44, với mức hỗ trợ 700.000đ/ha, tổng diện tích hỗ trợ 50 ha, huyện trồng nhiều nhất là Ân Thi, toàn huyện hỗ trồng được gần 15 ha, trong đó xã Văn Nhuệ trồng nhiều nhất với diện tích gần 11 ha, mặc dù nông dân trồng trong điều kiện vụ đông gặp rét đầu vụ nhưng giống ngô Wax 44 sinh trưởng phát triển tốt do khả năng chịu rét rất tốt của giống. Theo đánh giá của cán bộ kỹ thuật Cty Syngenta, mặc dù đây là vụ trồng đầu tiên nhưng nông dân Ân Thi trồng đúng mật độ, chăm sóc đầy đủ nên ngô Wax 44 cho bắp to, đẫy hạt, tỉ lệ bắp loại 1 đạt 100%.

Bác Nguyễn Thị Tuyết - nông dân trực tiếp trồng ngô Wax 44, đồng thời trồng cả giống ngô VN2, cho biết giống ngô Wax 44 trồng và chăm sóc dễ hơn giống VN2, cây sinh trưởng và phát triển đồng đều hơn, không có hiện tượng cây thấp cây cao, hay cây trỗ trước, cây trỗ sau, bắp rất to, bộ lá bền hơn, thời gian trỗ cờ, phun râu tập trung hơn, thời gian sinh trưởng ngắn hơn (gieo muộn hơn giống ngô VN2 từ 4 - 5 ngày nhưng vẫn trỗ cờ trước), năm tới gia đình tiếp tục trồng giống ngô này.

Thời điểm đó giá ngô nếp trên thị trường bán giá bình quân 700 - 800đ/bắp, riêng ngô Wax 44, được nhiều tư thương đến hỏi mua với giá 1.000 - 1.200đ/bắp, như vậy một sào ngô nếu thu hoạch bắp non bán được 1.700.000 - 2.000.000đ/sào.

Đến năm 2009 diện tích trồng ngô Wax 44 ở Hưng Yên tăng lên rất nhiều, ước đạt 350 – 400 ha, chiếm hơn nửa diện tích trồng ngô nếp của toàn tỉnh, một số địa phương trồng thuần được 4-5 vụ/năm, như Vũ Xã, Chính Nghĩa - Kim Động, Hàm Tử - Khoái Châu…, cho hiệu quả kinh tế cao, tổng thu 8 – 10 triệu đồng/sào/năm. Nông dân đưa ngô Wax 44 vào vụ đông trên đất hai lúa đã tạo thêm một số công thức luân canh nhằm giảm sự lây lan sâu bệnh đồng thời cho hiệu quả kinh tế cao.

Ông Trương Quang Anh, phụ trách thị trường miền Bắc của Cty Syngenta cho biết, diện tích trồng ngô nếp Wax 44 ngày càng mở rộng về quy mô cũng như địa bàn, là do giống có những đặc tính có lợi cho người trồng ngô, thời gian sinh trưởng ngắn, khả năng chống chịu sâu bệnh và điều kiện bất thuận tốt, khả năng hồi phục sau ngập úng rất nhanh, ít bị khô vằn, thối thân, cháy lá, gỉ sắt và các đối tượng sâu, bệnh khác gây hại, số lượng hạt trên bắp rất nhiều, chúng ta có thể nhận biết điều đó qua râu ngô, số lượng râu phun rất nhiều, đồng thời số lượng hạt bao phấn/bông cờ cũng rất nhiều điều đó có nghĩa đảm bảo cho sự thụ phấn thụ tinh của ngô tốt hơn, vì vậy hạt đẫy bắp và hầu như không có bắp bị khuyết hạt, điều này ít thấy ở một số giống ngô nếp khác; tỉ lệ nảy mầm cao, sinh trưởng khoẻ, trồng thưa như ngô tẻ nên cây rất đồng đều vì vậy tỉ lệ bắp loại 1 rất cao trên 90% và tuỳ thuộc vào tình hình sinh trưởng phát triển của ngô và điều kiện chăm sóc, có thể thu được 2 bắp/cây, hoặc có thể loại bỏ bắp dưới làm ngô rau để cây tập trung dinh dưỡng nuôi bắp còn lại.

Nhược điểm của giống ngô Wax 44 là nếu thu già thì ăn hơi rắn, vì thế muốn để chất lượng được tốt, đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng, nông dân cần chú ý thu hoạch khi râu ngô chuyển sang thâm râu nhưng râu vẫn còn tươi, hoặc tuỳ thuộc vào điều kiện thời tiết, mùa vụ để tiến hành thu hoạch khi ngô phun râu được 16 – 20 ngày, thu hoạch vào đúng thời điểm thích hợp sẽ nâng cao được chất lượng của giống ngô Wax 44, nâng cao được giá trị trên đơn vị canh tác.

Theo Bao Nong Nghiep Viet Nam

Không có nhận xét nào:

Lưu trữ

Dạy và học trực tuyến cây lúa



CÂY LƯƠNG THỰC. Mời các bạn tham gia lớp học trực tuyến Ngân hàng kiến thức trồng lúa (Vietnamese Rice Knowledge Bank) Trang tin điện tử về cây lúa của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Để tiết kiệm thời gian cho người học, chúng tôi đã tích hợp vào những trang FOOD CROPS, FOODCROPS.VN (Mời bạn bấm vào đây hoặc vào đây để đọc)

CÂY LÚA

CHƯƠNG TRÌNH HỌC TÍN CHỈ
(Biên soạn : TS. Hoàng Kim, 5 bài 1 tín chỉ )

I. Vị trí kinh tế của cây lúa
1.1 Vai trò của lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.2 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của lúa gạo
1.3 Phân loại, nguồn gốc,vùng phân bố, lịch sử phát triển
1.4 Sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

II. Sinh học cây lúa
2.1 Đặc điểm thực vật học của cây lúa
(rễ, thân, lá, hoa, bông, hạt)
2.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa
(nẩy mầm,/ mạ, đẻ nhánh, phát triển đốt thân, /
làm đòng, trổ bông, /làm hạt)
2.3 Đặc điểm sinh lý của ruộng lúa năng suất cao
2.3.1 Năng suất tối đa và dạng hình cây lúa lý tưởng
2.3.2 Quang hợp hô hấp, chế độ nước và mật độ trồng
2.3.3 Nhu cầu và dinh dưỡng khoáng của cây lúa
2.3.4.Những thiệt hại trên ruộng lúa nhiệt đới

III Khí hậu và đất lúa
3.1 Khí hậu: Ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, nguồn nước
3.2. Đất lúa Việt Nam vùng phân bố và tính chất đất cơ bản
3.3 Những vùng trồng lúa và các vụ lúa chính ở Việt Nam
3.4 Quản lý dinh dưỡng cho lúa theo vùng đặc thù
3.5 Biểu hiện cây lúa thiếu chất dinh dưỡng và bị ngộ độc

IV Giống lúa và công nghệ sản xuất giống
4.1 Các giống lúa tốt phổ biến ở Việt Nam
4.2. Đặc điểm sinh lý và di truyền của cây lúa
4.3 Tiêu chuẩn ngành về khảo nghiệm DUS và VCU giống lúa
4.4 Quy trình công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai

V. Kỹ thuật canh tác lúa
5.1 Mười biện pháp kỹ thuật chủ yếu canh tác lúa
5.2 Quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa thuần
5.3 Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai.
5.4 Việt GAP lúa khái niệm, ý nghĩa và quy trình

Xem tiếp tại http://fooccrops.vn/

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA
(Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Văn Tuất)

Cây lúa và sự phát triển
1. Tổng quan về cây lúa
2. Các thời kỳ và giai đoạn phát triển của cây lúa
3. Sự khác nhau giữa các giai đoạn phát triển của cây lúa
4. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa
5. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ mạ
6. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ đẻ nhánh
7. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực của cây lúa
8. Thời kỳ chín

Hạt giống
9. Hạt giống lúa
10. Các bộ phận của hạt giống lúa
11. Quá trình nảy mầm
12. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nước
13. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Không khí
14. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nhiệt độ
15. Vì sao phải ủ hạt giống
16. Vì sao phải chọn hạt giống tốt

Sự phát triển của cây mạ
17. Nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho sự phát triển của cây mạ
18. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: độ sâu của nước
19. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: lượng nước
20. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: nhiệt độ
21. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: cường độ ánh sáng
22. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: những chất dinh dưỡng dễ sử dụng
23. Cây mạ tốt có chiều cao cây phát triển đồng đều
24. Cây mạ tốt có bẹ lá ngắn
25. Cây mạ tốt phải không có sâu bệnh
26. Cây mạ tốt phải có nhiều rễ và khối lượng lớn

Cấy lúa
27. Vì sao phải cấy
28. Cấy bao nhiêu dảnh mạ trên một khóm
29. Vì sao phải cấy ở độ sâu thích hợp
30. Xén bớt lá mạ trước khi cấy nên hay không nên

Các bộ phận của cây lúa
31. Lá lúa
32. Thân lúa và sự tạo lóng
33. Rễ lúa
34. Nhánh lúa
35. Những yếu tố ảnh hưởng đến đẻ nhánh
36. Hoa lúa và sự thụ phấn, thụ tinh
37. Bông lúa và các giai đoạn hình thành hạt

Phân bón
38. Phân bón và bón phân cho cây lúa
39. Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón
40. Phân bón hữu cơ
41. Phân bón vô cơ
42. Phân đạm và hiệu suất phân đạm
43. Phân đạm và mùa vụ
44. Phân đạm và cách sử dụng để tăng hiệu quả
45. Phân đạm và cách bón đạm để tăng hiệu quả
46. Phân lân và hiệu suất phân lân
47. Phân kali và hiệu suất phân kali

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
48. Nước và đời sống cây lúa
49. Nhiệt độ và đời sống cây lúa
50. Ánh sáng và đời sống cây lúa
51. Các giai đoạn phát triển và yếu tố cấu thành năng suất

Côn trùng hại lúa
52. Sâu đục thân lúa 2 chấm
53. Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu
53 Sâu đục thân 5 vạch đầu đen
55. Sâu đục thân bướm cú mèo
56. Sâu cuốn lá nhỏ
57. Sâu cuốn lá lớn
58. Sâu gai
59. Rầy nâu
60. Rầy lưng trắng
61. Sâu cắn gié
62. Sâu năn
63. Sâu phao
64. Châu chấu
65. Bọ trĩ
66. Bọ xít dài
67. Bọ xít xanh
68. Bọ xít đen

Bệnh hại lúa
69. Bệnh đạo ôn
70. Bệnh khô vằn
71. Bệnh hoa cúc
72. Bệnh vàng lụi
73. Bệnh vàng lún và lùn xoắn lá
74. Bệnh bạc lá
75. Bệnh lúa von
76. Bệnh thối bẹ
77. Bệnh đốm nâu
78. Bệnh cháy bìa lá
79. Bệnh lem lép hạt