13/11/2011

Lương thực cho 9 tỷ người năm 2050


CÂY LƯƠNG THỰC.Nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp truyền thống chỉ có thể nuôi sồng Châu Âu và Châu Mỹ. Nó không thể nuôi sống toàn thế giới.Báo cáo đặc biệt về lương thực toàn cầu đã nhấn mạnh đến những vấn đề nuôi sống 9 tỷ con người. Lương thực cho thế giới 2050 sẽ vô cùng khó khăn. Báo cáo xem xét nhiều cách thức gia tăng năng suất của những cây trồng chính, xem xét những bất cập của đất đai, tài nguyên nước và việc sử dụng phân bón cũng như thuốc sâu, đánh giá các chính sách biofuel, giải thích tại sao quá nhiều các hợp phần công nghệ và xem xét tác động của việc tăng giá nông sản. Người ta khẳng định rằng:Các phê phán nông nghiệp hiện đại là chưa đầy đủ và chưa hiểu hết. Thâm canh cây trồng và khai thác các nguồn tài nguyên để nuôi sống 9 tỷ người năm 2050 vẫn là câu hỏi lớn của nhân loại.

CÂU HỎI VỀ 9 TỶ NGƯỜI TRÊN THẾ GIỚI: BÁO CÁO ĐẶC BIỆT VỀ LƯƠNG THỰC

Dân số thế giới sẽ tăng từ 7 tỷ người lên đến 9 tỷ vào năm 2050. Ông John Parker đặt câu hỏi rằng liệu sẽ có đủ lương thực cho thế giới hay không?'. Trên cánh đồng 1,6 ha (4-acre) có tên là Broadbalk field nằm trong trung tâm Rothamsted farm, cách Luân Đôn khoảng 40km (25 miles) về hướng Bắc. Vào năm 1847 nông dân Sir John Lawes, đã mô tả đất ruộng này thuộc đất thịt nặng còn nhiều mảnh vôi và có thể sản xuất tốt lúa mì khi có bón phân chuồng. Vụ thu hoạch năm 2010 dường như không xác minh được nhận định của John Lawes. Ở giữa cánh đồng, lúa mì rất trúng, năng suất đạt 10 tấn / ha, một trong những mức cao nhất trên thế giới. Nhưng ở cuối phía tây, gần trang viên, năng suất đạt 4-5 tấn / ha; chổ khác, spindlier, năng suất chỉ đạt 1-2 tấn / ha. Broadbalk không phải là cánh đồng bình thường. Cây thí nghiệm đầu tiên là lúa mì mùa đông đã được trồng vào mùa thu 1843, và hơn 166 năm trôi qua, cánh đồng này thuộc một phần của Rothamsted Research Station, trở thành điểm thí nghiệm nông nghiệp liên tục, dài hạn nhất trên thế giới. Hiện nay, nhiều phần khác của cánh đồng được trồng bằng nhiều kỹ thuật canh tác khác nhau, làm cho Broadbalk trở thành một “microcosm” của nông trại thế giới. Năng suất / ha giống như trên cánh đồng Châu Phi, với cùng lý do: cây trồng này không được bón phân, phun thuốc sâu hoặc không áp dụng kỹ thuật nào đó. Nông dân Phi Châu đôi khi đổ lỗi rằng năng suất thấp của họ do yếu tố nào đó, gắn liền với công nghệ tại nơi chưa được chú ý của mọi người.

Trong báo cáo đặc biệt này

Lúa mì đạt trung bình 4-5 tấn / ha, nhờ kết quả của Cách Mạng Xanh, việc chuyển đổi cơ cấu nông nghiệp đã lan chuyển cả thế giới từ thập niên 1970. Người ta đã bắt đầu áp dụng thuốc trừ cỏ và một ít phân hóa học, nhưng chưa đạt được chuẩn của kỹ thuật canh tác, cũng như chưa áp dụng giống lúa mì nửa lùn, cao sản. Đó là vụ trồng ở Nam Mỹ (Indian subcontinent) và Argentina. Những kết quả kỳ diệu xảy ra trong khu trung tâm của đồng ruộng này được ghi nhận nhờ sử dụng những cây tốt nhất, phân bón, thuốc trừ khuẩn và phát triển chăn nuôi. Năng suất cao hơn trung bình của quốc gia thuộc Anh.
Hạt giống của sự nghi ngờ

Nhưng cánh đồng Broadbalk cho thấy còn cái gì đó chưa ổn. Chương 1 theo dõi năng suất từ lúa bắt đầu, khẳng định làm thế nào 3 loại hình khác nhau cuả hệ thống nông nghiệp lúa mì –Phi Châu, Cách Mạng Xanh và mô hình tân tiến làm nên được sự đa dạng, đôi khi rất bất ngờ: trong thập niên 1960s với sự du nhập các loại thuốc cỏ mới vào cách mạng xanh lúa mì, và trong thập niên 1980s với sự du nhập thuốc diệt khuẩn mới, giống nửa lùn. Điều đáng lo là trong 15 năm qua, năng suất của hầu hết những giống cao sản tại Broadbalk bắt đầu có hướng suy giảm. Nổi lo sợ này khẳng định rằng Broadbalk có thể minh chứng như một microcosm (đại diện thu nhỏ) của thế giới. Đầu năm 2011, người ta chứng kiến khủng hoảng lương thực. Giá lương thực thế giới tăng đến đỉnh điểm như nó đã tăng trong 2008 (xem chương 2). Đây là thời điểm mà hàng trăm triệu dân trở lại nghèo đói; sự khủng hoảng lương thực đã và đang làm rung chuyển các chính phủ trong nhiều nước đang phát triển, các nước xuất khẩu cấm bán thực phẩm có hạt ra bên ngoài và hiện tượng "land grabs" (bị mất đất) tại các nước nhập khẩu nhiều thực phẩm có hạt ở vùng nông nghiệp nghèo nàn đang đặt ra câu hỏi rắc rối: “làm thế nào giúp được người nghèo tốt nhất”. Người ta lo ngại khô hạn sẽ làm thiệt hại nặng nề vụ lúa mì Trung Quốc, nơi có diện tích trồng lớn nhất, tạo ra những làn sóng khủng hoảng giá trên thị trường. Nhiều năm nay, một số chương trình TV của các nước nói tiếng Anh đang làm những “cooking shows”. Đó là điểm nhấn đến lợi ích về sức khỏe từ nguồn lương thực. Chính Livy có tính lịch sử như vậy thông qua đế chế La Mã đã bắt đầu mục rã khi nấu ăn tạo được danh tiếng. Các nước G8 tổ chức phiên họp trong năm 2009 đặt ra lương thực bên cạnh khủng hoảng tài chính toàn cầu trong danh sách các hạng mục phải được ưu tiên thảo luận, họ hứa hẹn sẽ đầu tư 20 tỷ USD cho nông nghiệp trong vòng 3 năm. Năm nay, Chủ tịch đương nhiệm của các nước G20, Tổng Thống Pháp Nicolas Sarkozy, muốn rằng lương thực là ưu tiên số một. Quỹ tài trợ Gates, quỹ từ thiện lớn nhất thế giới, đã tập trung vào mục tiêu sức khỏe và phát triển nói chung, đã bắt đầu tập trung về lương thực và thực phẩm của thế giới. Tháng vừa rồi, Diễn đàn kinh tế thế giới (World Economic Forum), một nhóm doanh nghiệp và nhà chính sách Davos, 17 công ty toàn cầu đã ra tuyên bố về những quyết định liên quan đến tầm nhìn nông nghiệp mới (a new vision for agriculture), hứa hẹn sẽ tiếp thị đối với người sản xuất nhỏ- một dấu hiệu báo động trong giới tư nhân.

Cái gì cho bữa ăn?

Chú ý của công chúng và chính trị gia có tính chất không thường xuyên, nhưng hợp lý. Một kỷ nguyên của lương thực giá rẽ đã đến tận đường hầm rồi. Một phối hợp của những yếu tố và nhu cầu gia tăng tại Ấn Độ và Trung Quốc, một chế độ ăn kiêng đang chuyển dịch từ mễ cốc sang thịt và rau xanh, việc sử dụng nhiều hơn bắp làm nhiên liệu sinh học, và việc phát triển ngành hàng phi nông nghiệp, thí dụ như sự kiện giảm giá trị đô la, tất cả đang mang đến một hiện tượng khép lại giai đoạn bình minh của thập niên 1970, trong đó giá thực phẩm quan trọng (gạo, lúa mì, bắp) rẻ và xu hướng giảm từ năm này sang năm khác. Đây là một cú “shock” thật sự. Trong thập niên 1990, hầu hết các vấn đề nông nghiệp dường như có thể giải quyết được. Năng suất tăng, dịch hại được kiểm soát, phân bón được cung cấp đủ để bồi dưỡng đất. Những lĩnh vực được thu hút chú ý trong nghiên cứu nhiều hơn cây trồng là HIV/AIDS. Kết thúc kỷ nguyên lương thực giá rẽ gắn liền với việc tìm ra giải pháp làm thế nào nuôi sống cả trái đất này. Trở lại giai đoạn 2011-12 dân số toàn thế giới đạt co số 7 tỷ người, khuấy động lại học thuyết Malthus. Giá cả lương thực tăng làm cho hàng triệu người nghèo phải chi một nửa thu nhập cho lương thực. Người nghèo theo chuẩn hiện nay là thu nhập 1,25 USD / ngày. Dường như thế giới không thể nuôi nổi dân số hiện tại? Như vậy với 9 tỷ dân vào 2050 thì thế nào? Chưa kể tác động của thay đổi khí hậu, nông nghiệp đang cả trong trạng thái “cause” (nguyên nhân) và “victim” (nạn nhân). Làm thế nào thế giới đương đầu trong 4 thập niên tới đây? Câu hỏi này chính là mấu chốt của báo cáo đặc biệt này. Câu trả lời không thể đi vào trực tiếp về nội dung kỹ thuật hoặc sinh học bởi vì lương thực là căn bản của đời sống. Trong truyền thuyết Maya, những con người đầu tiên được làm từ “maize dough” (bột bắp). Trong sử thi Marathi, ở miền trung tây Ấn Độ, con người trong thành thị được ví như "fried bread" (bánh mì chiên)-cho bữa ăn của công nhân. Bởi vì lương thực quá quan trọng, từ “nông nghiệp” có giá trị hơn bất cứ từ nào khác nói về hoạt động kinh tế - được người ta hi vọng tạo ra được hàng loạt mục tiêu cạnh tranh và mục tiêu chồng lấp lên tất cả mục tiêu, từ nơi này đến nơi khác. Thế giới đang nhìn xem nông dân làm nhiều hơn lương thực. Nông nghiệp là trung tâm để giảm đói và cho nhân loại con đường chính để thoát nghèo. Lương thực có thể tạo nên ảnh hưởng lớn lao nhất về sức khỏe nhân loại, thể hiện trong nhiều cách khác nhau về cơ bản ở các nước nghèo cũng như nước giàu, nơi mà vấn đề nghiêm trọng nhất là sự béo phì hiện nay. Lương thực còn là niềm vui của người nghèo nhất. Trong những favelas (slums) của São Paulo, thành phố lớn nhất Nam Mỹ, phòng bán pizza mang về nhà rất đông bởi vì nhiều gia đình, họ không có đủ nhà bếp, bây giờ cỉ cần gọi mang pizza về nhà là phương thức đặc biệt. Đối với các công ty lương thực, nhà chọn giống cây trồng và các tổ chức quốc tế phát triển, Cách Mạng Xanh đã là một thành công đầy ấn tượng và là nhu cầu được tiếp tục sang cuộc cách mạng giai đoạn hai. Cách nhìn nhận này có vẻ hoài nghi về dịch vụ lương thực hiện đại nào đó. Nhóm liên minh như vậy, có thế lực trong các tổ chức phi chính phủ và người tiêu dùng, tập trung nhiều hơn nữa cho lương thực cho nước giàu, thí dụ các vấn đề về chăm sóc động vật và bệnh béo phì. Người ta tranh luận rằng nông nghiệp hiện đại sản xuất ra lương thực không ngon (tasteless), không tương xứng về dinh dưõng và phá hại môi trường. Người ta nghĩ rằng Cách Mạng Xanh sẽ thất bại, hoặc ít nhất làm cho môi trường tổn thương hơn, mang lại ít phúc lợi hơn cái mà người ta mong đợi. Michael Pollan đã xuất bản quyển sách "The Omnivore's Dilemma", bắt đầu bằng câu hỏi: "Chúng ta nên có gì trong bữa ăn?" Trái lại, nều chúng ta quá lo lắng về cung ứng lương thực thì câu hỏi sẽ là: "Sẽ có bất cứ cái gì trong bữa ăn phải không?"

Báo cáo đặc biệt này nhấn mạnh đến những vấn đề nuôi sống 9 tỷ con người. Người ta tranh cãi: lương thực cho thế giới 2050 sẽ vô cùng khó khăn, và dịch vụ sử dụng sẽ không làm được điều ấy. Báo cáo xem xét nhiều cách thức gia tăng năng suất của những cây trồng chính, xem xét những bất cập của đất đai, tài nguyên nước và việc sử dụng phân bón cũng như thuốc sâu, đánh giá các chính sách biofuel, giải thích tại sao quá nhiều các hợp phần công nghệ và xem xét tác động của việc tăng giá nông sản. Người ta khẳng định rằng: các phê phán về nông nghiệp hiện đại có thể chưa đầy đủ và chưa hiểu hết, phản ứng đối với thâm canh là một cách xa xỉ của người giàu. Nông nghiệp hữu cơ và nông nghiệp truyền thống chỉ có thể nuôi sồng Châu Âu và Châu Mỹ. Nó không thể nuôi sống toàn thế giới.

Xem chi tiết báo cáo http://www.economist.com/node/18200618

Nguồn Khoa học Công nghệ NN&PTNT theo báo economist.com

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Dạy và học BlogtiengViet
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Không có nhận xét nào:

Lưu trữ

Dạy và học trực tuyến cây lúa



CÂY LƯƠNG THỰC. Mời các bạn tham gia lớp học trực tuyến Ngân hàng kiến thức trồng lúa (Vietnamese Rice Knowledge Bank) Trang tin điện tử về cây lúa của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Để tiết kiệm thời gian cho người học, chúng tôi đã tích hợp vào những trang FOOD CROPS, FOODCROPS.VN (Mời bạn bấm vào đây hoặc vào đây để đọc)

CÂY LÚA

CHƯƠNG TRÌNH HỌC TÍN CHỈ
(Biên soạn : TS. Hoàng Kim, 5 bài 1 tín chỉ )

I. Vị trí kinh tế của cây lúa
1.1 Vai trò của lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.2 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của lúa gạo
1.3 Phân loại, nguồn gốc,vùng phân bố, lịch sử phát triển
1.4 Sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

II. Sinh học cây lúa
2.1 Đặc điểm thực vật học của cây lúa
(rễ, thân, lá, hoa, bông, hạt)
2.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa
(nẩy mầm,/ mạ, đẻ nhánh, phát triển đốt thân, /
làm đòng, trổ bông, /làm hạt)
2.3 Đặc điểm sinh lý của ruộng lúa năng suất cao
2.3.1 Năng suất tối đa và dạng hình cây lúa lý tưởng
2.3.2 Quang hợp hô hấp, chế độ nước và mật độ trồng
2.3.3 Nhu cầu và dinh dưỡng khoáng của cây lúa
2.3.4.Những thiệt hại trên ruộng lúa nhiệt đới

III Khí hậu và đất lúa
3.1 Khí hậu: Ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, nguồn nước
3.2. Đất lúa Việt Nam vùng phân bố và tính chất đất cơ bản
3.3 Những vùng trồng lúa và các vụ lúa chính ở Việt Nam
3.4 Quản lý dinh dưỡng cho lúa theo vùng đặc thù
3.5 Biểu hiện cây lúa thiếu chất dinh dưỡng và bị ngộ độc

IV Giống lúa và công nghệ sản xuất giống
4.1 Các giống lúa tốt phổ biến ở Việt Nam
4.2. Đặc điểm sinh lý và di truyền của cây lúa
4.3 Tiêu chuẩn ngành về khảo nghiệm DUS và VCU giống lúa
4.4 Quy trình công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai

V. Kỹ thuật canh tác lúa
5.1 Mười biện pháp kỹ thuật chủ yếu canh tác lúa
5.2 Quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa thuần
5.3 Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai.
5.4 Việt GAP lúa khái niệm, ý nghĩa và quy trình

Xem tiếp tại http://fooccrops.vn/

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA
(Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Văn Tuất)

Cây lúa và sự phát triển
1. Tổng quan về cây lúa
2. Các thời kỳ và giai đoạn phát triển của cây lúa
3. Sự khác nhau giữa các giai đoạn phát triển của cây lúa
4. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa
5. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ mạ
6. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ đẻ nhánh
7. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực của cây lúa
8. Thời kỳ chín

Hạt giống
9. Hạt giống lúa
10. Các bộ phận của hạt giống lúa
11. Quá trình nảy mầm
12. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nước
13. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Không khí
14. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nhiệt độ
15. Vì sao phải ủ hạt giống
16. Vì sao phải chọn hạt giống tốt

Sự phát triển của cây mạ
17. Nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho sự phát triển của cây mạ
18. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: độ sâu của nước
19. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: lượng nước
20. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: nhiệt độ
21. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: cường độ ánh sáng
22. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: những chất dinh dưỡng dễ sử dụng
23. Cây mạ tốt có chiều cao cây phát triển đồng đều
24. Cây mạ tốt có bẹ lá ngắn
25. Cây mạ tốt phải không có sâu bệnh
26. Cây mạ tốt phải có nhiều rễ và khối lượng lớn

Cấy lúa
27. Vì sao phải cấy
28. Cấy bao nhiêu dảnh mạ trên một khóm
29. Vì sao phải cấy ở độ sâu thích hợp
30. Xén bớt lá mạ trước khi cấy nên hay không nên

Các bộ phận của cây lúa
31. Lá lúa
32. Thân lúa và sự tạo lóng
33. Rễ lúa
34. Nhánh lúa
35. Những yếu tố ảnh hưởng đến đẻ nhánh
36. Hoa lúa và sự thụ phấn, thụ tinh
37. Bông lúa và các giai đoạn hình thành hạt

Phân bón
38. Phân bón và bón phân cho cây lúa
39. Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón
40. Phân bón hữu cơ
41. Phân bón vô cơ
42. Phân đạm và hiệu suất phân đạm
43. Phân đạm và mùa vụ
44. Phân đạm và cách sử dụng để tăng hiệu quả
45. Phân đạm và cách bón đạm để tăng hiệu quả
46. Phân lân và hiệu suất phân lân
47. Phân kali và hiệu suất phân kali

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
48. Nước và đời sống cây lúa
49. Nhiệt độ và đời sống cây lúa
50. Ánh sáng và đời sống cây lúa
51. Các giai đoạn phát triển và yếu tố cấu thành năng suất

Côn trùng hại lúa
52. Sâu đục thân lúa 2 chấm
53. Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu
53 Sâu đục thân 5 vạch đầu đen
55. Sâu đục thân bướm cú mèo
56. Sâu cuốn lá nhỏ
57. Sâu cuốn lá lớn
58. Sâu gai
59. Rầy nâu
60. Rầy lưng trắng
61. Sâu cắn gié
62. Sâu năn
63. Sâu phao
64. Châu chấu
65. Bọ trĩ
66. Bọ xít dài
67. Bọ xít xanh
68. Bọ xít đen

Bệnh hại lúa
69. Bệnh đạo ôn
70. Bệnh khô vằn
71. Bệnh hoa cúc
72. Bệnh vàng lụi
73. Bệnh vàng lún và lùn xoắn lá
74. Bệnh bạc lá
75. Bệnh lúa von
76. Bệnh thối bẹ
77. Bệnh đốm nâu
78. Bệnh cháy bìa lá
79. Bệnh lem lép hạt