Lưu trữ

18/9/11

Cơ cấu giống lúa vụ Hè Thu 2011 ở Nam Bộ



CÂY LƯƠNG THỰC. Theo Nguyễn Quốc Lý, Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống, Sản phẩm Cây trồng Nam Bộ, Cơ cấu giống lúa vụ Hè Thu ở Nam Bộ đã được đề xuất tại Diễn đàn Khuyến nông và Nông nghiệp lần thứ 5 – 2011 chuyên đề Sản xuất và cung ứng giống lúa các tỉnh phía Nam. Trên cơ sở những đề xuất này , kết hợp với thực tiễn sản xuất của mỗi địa phương để xác định cơ cấu giống gồm 4-6 giống chủ lực, 4-5 giống bổ sung và 4-5 giống triển vọng mới; cơ cấu một giống không vượt quá 20% diện tích trên địa bàn. Để từng bước xây dựng vùng lúa hàng hóa chất lượng cao, các tỉnh cần rà soát quy hoạch những vùng sản xuất lúa đặc sản hoặc cao sản chất lượng cao với quy mô rộng (hàng ngàn ha) theo quy trình VietGap trên cơ sở có sự tham gia hoặc đặt hàng của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo. Một yếu tố quan trọng để cơ cấu giống được thực hiện và phát huy hiệu quả là tiếp tục tăng cường củng cố và đầu tư phát triển toàn diện hệ thống sản xuất và cung ứng giống lúa các cấp của cả hệ thống chính quy và nông hộ.

CƠ CẤU GIỐNG LÚA VỤ HÈ THU 2011 Ở NAM BỘ

Nguyễn Quốc Lý
Trung tâm KKN Giống, Sản phẩm Cây trồng Nam Bộ

1. Đánh giá giống lúa vụ Đông Xuân 2010/ 2011
Trong vụ Đông Xuân 2010/ 2011 dịch rầy nâu, vàng lùn, LXL – tác nhân gây hại lớn nhất tới sản xuất lúa trong gần 5 năm qua, đã cơ bản được quản lý trên phạm vi toàn Nam Bộ; đây là kết quả tổng hợp của nhiều yếu tố, bao gồm: sự chỉ đạo bằng các giải pháp đồng bộ và liên tục của Bộ Nông nghiệp và PTNT cùng các địa phương, sự chuyển đổi tích cực về cơ cấu giống theo hướng tăng cường tỷ lệ giống kháng sâu bệnh hại, việc nâng cao tỷ lệ sử dụng giống lúa nguyên chủng và xác nhận, và áp dụng các biện pháp kỹ thuật tổng hợp quản lý dịch hại ... Trong vụ Đông Xuân 2010/ 2011 cơ cấu giống lúa ở Nam Bộ về cơ bản đã được áp dụng theo khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT. Cơ sở đảm bảo thực hiện cơ cấu giống theo khuyến cáo là sự phát triển mạnh mẽ của hệ thống sản xuất giống lúa các cấp trong toàn vùng; tỷ lệ giống xác nhận (của hệ thống chính quy và hệ thống nông hộ) đạt 30-60% tùy theo địa phương. Các giống lúa chủ lực được áp dụng trong vụ ĐX 2010/ 2011 bao gồm: IR50404, OM2517, VNĐ95-20, Jasmine 85, OM576, OM2514, OM2717, OM4218, OMCS2000, ML48, VD20... Ngoài ra trong vụ ĐX2010/ 2011 một số giống lúa mới được Bộ NN&PTNT công nhận cũng có sự phát triển nhanh chóng trong sản xuất như: OM4218, OM6162, OM6161, OM4900, OM6561...

Công tác chọn tạo phát triển giống lúa mới cũng đạt kết quả đáng ghi nhận từ các đơn vị chọn tạo giống, đặc biệt từ Viện Lúa ĐBSCL. Qua khảo nghiệm và sản xuất thử đã xác định được nhiều giống lúa triển vọng trong vùng. Ở thời điểm hiện tại các giống lúa OM6377, OM5981, OMCS2009, OM6071, OM5629, OM6600, OM6877, OM5954, OM4101, OM6072, OM5451, OM5464, OM8923, OM6976 đang được Cục Trồng trọt thẩm định để công nhận chính thức; các giống OM3995, OM4488, OM5166, OM5953, OM6677, OM6877, OM7347, OM7348, OM7364, OM7398, OM7926, OM8223, OM8928 được xem xét công nhận cho sản xuất thử. Bộ giống lúa triển vọng mới cũng rất phong phú và đa dạng; đây là cơ sở quan trọng để xây dựng cơ cấu giống lúa cân bằng và chủ động trong vùng.

Ngoài những kết quả trên, trong vụ ĐX2010/ 2011 đã ghi nhận dịch bệnh đạo ôn xảy ra trên diện rộng, đây là hệ quả tất yếu do phần lớn các giống lúa chủ lực ở Nam Bộ có phản ứng hơi nhiễm – nhiễm bệnh đạo ôn; sự xâm nhập mặn cuối vụ gây hại đáng kể cho sản xuất lúa ở vùng ven biển; nhóm giống lúa chống chịu tốt với phèn mặn và hạn hán còn hạn chế; sự ”sốt giống” vẫn còn xẩy ra trong vùng.

2. Đề xuất cơ cấu giống lúa vụ Hè Thu 2011
Để sử dụng tốt nhất nguồn giống lúa hiện có, cần xây dựng cơ cấu giống lúa cân bằng cả về khía cạnh chất lượng và chống chịu điều kiện khó khăn và sâu bệnh hại. Trong điều kiện thu hoạch vụ ĐX2010/ 2011 được mùa, được giá và thuận lợi về thị trường, khả năng phát triển đột biến trở lại giống IR50404 trong vụ Hè Thu 2011 là thực tế. Để đảm bảo an toàn cho sản xuất và thị trường, cần tiếp tục quản lý chặt chẽ cơ cấu giống lúa IR50404 trong vụ Hè Thu theo các khuyến cáo trước đây. Diện tích giống IR50404 không vượt quá 20-25% cơ cấu giống từng vùng. Cần mở rộng diện tích các giống lúa ngắn ngày chất lượng tốt đã được công nhận chính thức hoặc cho sản xuất thử như OM4900, OM6162, OM6677, OM6561, OM4218, OM6976... kết hợp với duy trì tỷ lệ hợp lý giống lúa OM 2514 và OM1490. Trong điều kiện vụ Hè Thu, không mở rộng qúa cao diện tích giống Jasmine 85 và VD20; ngòai ra cũng cần chú ý đến mức độ chống chịu bệnh khô vằn và điều kiện khó khăn như đổ ngã, hạn và xâm nhập mặn đầu vụ …

Căn cứ vào thực tiễn sản xuất từ các địa phương và kết quả khảo nghiệm và sản xuất thử trong năm 2009-2010, các nhóm giống cho sản xuất vụ Hè Thu 2011 được tổng hợp như sau:

Nhóm giống lúa chủ lực (diện tích trên 30.000 ha/ vụ): IR50404, OM2517, OM4218, OM4900, VNĐ95-20, Jasmine 85, OM576, OM2514, OM2717, OMCS2000, OM6162, ML48.

Nhóm giống bổ sung (diện tich từ 10.000-30.000 ha/ vụ): OM3536, AS996, OM4498, OM2718, OM6561, VĐ20, ST5, OM1490, OM5199, OM5472, OM4088, OM8923, TNĐB100, OM5451, OM4488, OM7347, , MTL653, OM5976, OM6706, OM4101, B-TE1 (lúa lai), nếp OM85, Nàng Hoa 9 (lúa thơm), OM6976...

Nhóm giống lúa triển vọng (dưới 10.000 ha/ vụ): OM6677, OM9922, OM6916, MNR2, OM8108, OM8928, OM8104, OM5756, OM7262, MTL547, OM7364, OM8232, OM10041, OM6904, PHB71, OM7230, OM5886...

Các giống lúa chống chịu phèn mặn trung bình - khá: AS996, OM2517, ST5, OM6976, OM2488, OM2818, OM6379, OM6677, OM5199ĐB, OM576, OM5472, OM6561, OM1490, B-TE1, OM5464, OM5166, OM5629...

Nhóm giống lúa thơm-đặc sản: Jasmine 85, VĐ20, ST5, OM3536, Tài Nguyên, Nàng Hoa 9, nếp OM85...

Nhóm giống cao sản chất lượng cao cho xuất khẩu: OM3536, OM2517, VND95-20, OM2717, OMCS2000, OM6162, OM4900, OM4218...

Cơ cấu giống lúa cho từng tiểu vùng sinh thái ở Nam Bộ cho vụ Hè Thu 2011 được đề xuất như sau:

1. Vùng bán đảo Cà Mau: ưu tiên sử dụng các giống lúa ngắn ngày, chịu phèn mặn và điều kiện khó khăn.
 Giống chủ lực: OM2517, OM576, OMCS2000, OM6162, OM4900, OM2717, OM6161, IR50404...
 Giống bổ sung: OM5472, Jasmine 85, VND95-20, ST5, OM6561, OM7347, OM4488, lúa lai B-TE1...
 Giống triển vọng: OM6976, OM4688, OM5451, OM6377, OM8923, lúa lai PHB71...

2. Vùng tây sông Hậu và Tứ giác Long Xuyên: ưu tiên áp dụng các giống lúa thâm canh cao
 Giống chủ lực: IR50404, OM2517, OM4498, OM4218, OM4900, OM6162, OM5472...
 Giống bổ sung: OM2717, OM1490, OM576, AS996, OM3536, Jasmine 85, OM5451, OM6976...
 Giống triển vọng: OM8923, OM10041, MNR2, OM6677, OM8108, OM6916, MTL547, OM7364...

3. Vùng phù sa ngọt dọc sông Tiền, sông Hậu: ưu tiên sử dụng các giống lúa cao sản chất lượng cao:
 Giống chủ lực: OM4900, OM6162, Jasmine 85, OM4218, OM5472, OM2517, OM2514, VNĐ95-20, IR50404...
 Giống bổ sung: OM6976, OM2717, AS996, Nàng Hoa 9, TNĐB100, OM6561, OM6162, VD20, OM576, nếp OM85...
 Giống triển vọng: OM8923, OM7347, OM6677, OM5451, OM10041, OM6916, OM6932, OM6904, PHB71...

4. Vùng Đồng Tháp Mười: ưu tiên áp dụng giống lúa cực ngắn ngày, chịu phèn mặn trung bình – khá
 Giống chủ lực: IR50404, OM2517, VNĐ95-20, OM4218, OMCS2000, OM3536, OM6561, OM4900, OM6162...
 Giống bổ sung: OM6976, OM576, MTL499, OM2514, OM4498, OM5472, VD20, OM7347, Jasmine 85...
 Giống triển vọng: OM8928, OM5756, OM9922, OM6916, OM8923, MTL547, OM7262...

5. Vùng ven biển Nam Bộ: ưu tiên áp dụng giống ngắn ngày, thâm canh trung bình – khá, chịu điều kiện khó khăn
 Giống chủ lực: IR50404, OM2517, OM576, AS996, OM6162, OM6561, OM5472, OMCS2000...
 Giống bổ sung: OM3536, OM4498, ST5, OM4900, Jasmine 85, OM7347, OM1325 (Nhóm B), B-TE1, Một bụi đỏ...
 Giống triển vọng: OM8923, OM6976, OM6677, OM8928, OM8108, OM8104...

6. Tp. Hồ Chí Minh và các tỉnh Đông Nam Bộ:

 Giống chủ lực: VNĐ95-20, OM4900, OMCS2000, OM6162, IR59606 (OMCS94), ML48...
 Giống bổ sung: OM4218, OM6976, OM3536, OM4498, OM4900, OM5451, OM6162, TH6, TH4, IR64 ...
 Giống triển vọng: OM6916, OM8923, OM7262, OM8018, OM10041, MTL547, MNR2...

7. Các tỉnh Nam Trung Bộ (Ninh Thuận, Bình Thuận, Khánh Hòa):

 Giống chủ lực: ML48, TH6, TH41, ML202...
 Giống bổ sung: ML214, OM4900, OM6162, OM59606...
 Giống triển vọng: OM6976, OM 7262, MTL 547, MNR 2, OM 6677, OM 8232...




Trên cơ sở đề xuất trên, kết hợp với thực tiễn sản xuất mỗi địa phương xác định cơ cấu giống gồm 4-6 giống chủ lực, 4-5 giống bổ sung và 4-5 giống triển vọng mới; cơ cấu một giống không vượt quá 20% diện tích trên địa bàn. Để từng bước xây dựng vùng lúa hàng hóa chất lượng cao, các tỉnh cần rà soát quy hoạch những vùng sản xuất lúa đặc sản hoặc cao sản chất lượng cao với quy mô rộng (hàng ngàn ha) theo quy trình VietGap trên cơ sở có sự tham gia hoặc đặt hàng của doanh nghiệp kinh doanh xuất khẩu gạo. Một yếu tố quan trọng để cơ cấu giống được thực hiện và phát huy hiệu quả là tiếp tục tăng cường củng cố và đầu tư phát triển toàn diện hệ thống sản xuất và cung ứng giống lúa các cấp của cả hệ thống chính quy và nông hộ.

Nguyễn Quốc Lý

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

Giống lúa cho miền Trung và Tây Nguyên



CÂY LƯƠNG THỰC. Trần Văn Mạnh 2011. Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống, Sản phẩm Cây trồng và Phân bón Quốc gia vùng miền Trung và Tây Nguyên "Báo cáo tình hình sử dụng giống lúa và giới thiệu một số giống lúa triển vọng tại vùng Duyên hải Nam Trung Bộ và Tây Nguyên". Diễn đàn Khuyến nông và Nông nghiệp lần thứ 5 - 2011 chuyên đề sản xuất và cung ứng giống lúa các tỉnh phía Nam. Bộ giống lúa chủ lực trong sản xuất hiện nay ở vùng Duyên hải Nam Trung Bộ:* Lúa thường: các giống 13/2 (IR17494), Xi23 (nhóm dài ngày); ĐB 6, TB-R1, KD đột biến, ĐV108, HT1, Q5, ML48, ML202, IR64, VND95-20. (nhóm trung ngày); Lúa cạn: LC93-1, LC93-4; * Lúa lai: Nhị ưu 838, BT-E1, Nông ưu 28, Syn6, Nghi Hương 2308; Bộ giống lúa chủ lực trong sản xuất hiện nay ở Tây Nguyên:* Lúa thường: các giống 13/2 (IR17494), Xi23 (nhóm dài ngày); ĐB 6, TB-R1, KD đột biến, ĐV108, HT1, Q5, ML48, ML202, IR64, VND95-20. (nhóm trung ngày); Lúa cạn: LC93-1, LC93-4; * Lúa lai: Nhị ưu 838, BT-E1, Nông ưu 28, Syn6, Nghi hương 2308. (Đánh giá giống lúa ở Ninh Thuận, ảnh Hoàng Kim).


TÌNH HÌNH SỬ DỤNG GIỐNG LÚA VÀ GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIỐNG LÚA MỚI CÓ TRIỂN VỌNG TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN


Trần Văn Mạnh
Trung tâm Khảo Kiểm nghiệm Giống, Sản phẩm Cây trồng và Phân bón Quốc gia vùng miền Trung và Tây Nguyên

1.ĐẶT VẤN ĐỀ

Vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên là 2 vùng sinh thái đặc thù có nhiều tiềm năng đa dạng trong sản xuất nông nghiệp nói chung và ngành Trồng trọt nói riêng. Trong sản xuất trồng trọt, lúa là cây trồng chủ lực cung cấp lương thực chủ yếu, hàng năm diện tích lúa toàn vùng (từ Đà Nẵng đến Khánh Hoà và 5 tỉnh Tây Nguyên) chiếm khoảng 600.000 ha với sản lượng đạt 3.000.000 tấn/năm. Chính vì vậy, sản xuất cây lúa trong vùng được các cấp lãnh đạo, các nhà khoa học cả nước đặc biệt quan tâm từ việc nghiên cứu đến công tác chỉ đạo đưa các tiến bộ kỹ thuật vào áp dụng để nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả kinh tế.

Với chức năng, nhiệm vụ được giao, Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón vùng miền Trung - Tây Nguyên là đơn vị làm công tác Khảo nghiệm VCU và DUS giống cây trồng mới; Chứng nhận chất lượng giống cây trồng cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh giống tại các tỉnh miền Trung và Tây Nguyên.

Sau đây, chúng tôi xin tóm lược về tình hình sử dụng giống và giới thiệu một số giống cây trồng mới triển vọng tại vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên trong thời gian qua như sau:

2. HIỆN TRẠNG SỬ DỤNG GIỐNG LÚA TRONG CƠ CẤU SẢN XUẤT TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

a. Vùng Duyên hải Nam Trung bộ (Đà Nẵng - Khánh Hoà): Hiện nay, phần lớn nông dân sản xuất lúa trong vùng (các tỉnh Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Ngãi và Bình Định) đã có thói quen sử dụng hạt giống kỹ thuật (Nguyên chủng, Xác nhận, hạt lai F1) để gieo trồng. Riêng các tỉnh Phú Yên, Khánh Hoà tỷ lệ nông dân sử dụng hạt giống kỹ thuật còn rất thấp, chủ yếu chỉ mua giống 1 vụ sau đó tự sản xuất và làm giống cho nhiều vụ liên tiếp. Về cơ cấu giống lúa trong sản xuất phần lớn là các giống lúa thường chiếm trên 90% diện tích; lúa lai thương phẩm chỉ chiếm 8- 9% diện tích.

Vụ Đông Xuân với diện tích trồng lúa hàng năm khoảng 170.000 ha, nếu nông dân sử dụng 100% hạt giống lúa kỹ thuật để gieo cấy thì lượng giống cần cung ứng khoảng từ 12.000- 17.000 tấn giống/vụ. Vụ Hè Thu và vụ Mùa, diện tích lúa gieo cấy trong vùng khoảng 180.000- 200.000 ha, với lượng giống kỹ thuật cần cung ứng ước khoảng 9.000- 12.000 tấn/vụ (Nếu nông dân sử dụng 100% hạt giống kỹ thuật để gieo trồng thì lượng hạt giống cần đáp ứng từ 15.000- 20.000 tấn/vụ).

Như vậy, để đáp ứng nhu cầu cho sản xuất lúa ở 2 vụ Đông Xuân và Hè thu thì lượng hạt giống kỹ thuật có chất lượng tốt cần thiết cho sản xuất trong vùng từ 20.000- 30.000 tấn hạt giống lúa.

Bộ giống lúa chủ lực trong sản xuất hiện nay:
- Lúa thường: các giống Xi23, NX30, BM9855, 13/2 (IR17494), BC15 (nhóm dài ngày); ĐB 6, TB-R1, KD đột biến, ĐV108, HT1, Q5, ML48, ML68, ML202, TH41, ML203, ML214 (nhóm trung ngày).
- Lúa lai: Nhị ưu 838, BT-E1, Nghi hương 2308.

b. Vùng Tây Nguyên (Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lâm Đồng): Cơ cấu giống lúa trong sản xuất phần lớn là các giống lúa thường chiếm trên 90% diện tích; lúa lai thương phẩm chỉ chiếm 8- 10% diện tích tuỳ từng tiểu vùng. Diện tích lúa trong vùng sử dụng hạt giống kỹ thuật để sản xuất nhìn chung còn chiếm tỷ lệ thấp. Vì vậy, cần có các chính sách giúp nông dân áp dụng tiến bộ kỹ thuật đồng bộ vào sản xuất thâm canh lúa mà trong đó việc sử dụng giống kỹ thuật cũng là một trong những biện pháp hữu hiệu để nâng cao năng suất, mang lại hiệu quả kinh tế cao.

Vụ Đông Xuân, Hè Thu và vụ Mùa với tổng diện tích gieo cấy hàng năm khoảng 200.000 ha, vậy nhu cầu giống kỹ thuật cho gieo cấy 100% diện tích trên ước khoảng 16.000- 20.000 tấn hạt giống.

Bộ giống lúa chủ lực trong sản xuất hiện nay:
- Lúa thường: các giống 13/2 (IR17494), Xi23 (nhóm dài ngày); ĐB 6, TB-R1, KD đột biến, ĐV108, HT1, Q5, ML48, ML202, IR64, VND95-20. (nhóm trung ngày); Lúa cạn: LC93-1, LC93-4.
- Lúa lai: Nhị ưu 838, BT-E1, Nông ưu 28, Syn6, Nghi Hương 2308.

3. TÌNH HÌNH SẢN XUẤT, CUNG ỨNG VÀ QUẢN LÝ CHẤT LƯỢNG GIỐNG TẠI VÙNG DUYÊN HẢI NAM TRUNG BỘ VÀ TÂY NGUYÊN

Thống kê sơ bộ trên địa bàn vùng Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên trong năm 2010 có trên 40 đơn vị tham gia sản xuất hạt giống cây trồng, với diện tích sản xuất khoảng 2.500 ha, sản lượng hạt lúa giống thu được ước đạt khoảng 13.000 tấn, đã đáp ứng một phần cho nhu cầu sản xuất trong vùng và chuyển ra các tỉnh phía Bắc.

Trong 6 tháng đầu năm 2011, có 15 đơn vị sản xuất kinh doanh hạt giống đăng ký kiểm định ruộng giống, kiểm nghiệm chứng nhận chất lượng giống cây trồng với Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón vùng miền Trung- Tây Nguyên. Tổng diện tích ruộng giống đã qua kiểm định là 1.115 ha bao gồm các cấp giống: siêu nguyên chủng, nguyên chủng, xác nhận và hạt lai F1. Lượng hạt giống qua kiểm nghiệm chứng nhận chất lượng đạt tiêu chuẩn ước tính: cấp nguyên chủng, xác nhận 5.000 tấn; Hạt giống lai F1 là 470 tấn.

4. GIỚI THIỆU MỘT SỐ GIỐNG LÚA MỚI CÓ TRIỂN VỌNG

1. Lúa lai:

1.1. Giống lúa lai 3 dòng Phú ưu số 4:
Do Công ty TNHH Khoa học kỹ thuật Trung Chính chọn tạo chọn tạo từ tổ hợp lai: Nhị 32A/Gia hội 978. Giống Phú ưu số 4 là giống cảm ôn, có TGST trong vụ ĐX 115 - 120 ngày, vụ HT 110 - 115 ngày; Chiều cao cây 98 - 100 cm; số hạt/bông 145 – 155 hạt, tỷ lệ lép 12 - 15%; khối lượng 1.000 hạt 27 - 28g; Năng suất từ 65 - 70 tạ/ha; dạng hạt bầu, chất lượng gạo khá, nhiễm nhẹ các loại sâu bệnh hại chính; khả năng chịu rét khá, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo trồng vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên chân đất vàn, vàn thấp chịu thâm canh. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.2. Giống lúa lai 3 dòng Bio404: Do Công ty TNHH một thành viên Bioseed nhập nội và khảo nghiệm. Giống Bio404 có TGST trong vụ ĐX 120 - 125 ngày, vụ HT 105 - 110 ngày; Chiều cao cây 98 - 100 cm; Số hạt chắc/ bông 135 – 140 hạt, tỷ lệ lép 15 - 16%; Năng suất từ 70 - 80 ta/ ha, thâm canh đạt 90 - 95 tạ/ha; Dạng hạt dài, chất lượng gạo khá, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, chịu rét khá, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50kg/ha.

1.3. Giống lúa lai 3 dòng XL94017: Do Công ty Bayer Việt Nam nhập nội và khảo nghiệm. Giống XL94017 có TGST vụ ĐX120 - 125 ngày, HT 105 - 110 ngày; chiều cao cây 105 – 110 cm; Số hạt chắc/ bông 125 – 130 hạt, tỷ lệ lép 20 – 22%; Năng suất từ 70 - 80 ta/ ha, thâm canh đạt 85 - 90 tạ/ha; Dạng hạt dài, chất lượng gạo khá, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50kg/ha.

1.4. Giống lúa lai 3 dòng Quốc hào 5
: Công ty Cổ phần tập đoàn Điện Bàn nhập nội từ Trung Quốc đưa vào khảo nghiệm và cung ứng tại Việt Nam. Giống Quốc hào 5 có TGST vụ ĐX 110 - 115 ngày, vụ HT 100 - 105 ngày; Chiều cao cây 95 - 110 cm; Số hạt chắc/bông 90 - 95 hạt, tỷ lệ lép 20 - 25%; Khối lượng 1.000 hạt 28 - 32g; Năng suất từ 70 - 75 ta/ ha; thâm canh đạt 80 - 85 tạ/ha; Dạng hạt dài, chất lượng gạo khá, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, cứng cây chống đổ tốt.
Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50kg/ha.

1.5. Giống lúa lai 3 dòng LS1: Do Công ty Cổ phần giống cây trồng Lạng Sơn nhập nội từ Trung Quốc đưa vào khảo nghiệm. Giống LS1 có TGST vụ ĐX 120- 125 ngày; Chiều cao cây 108 - 112 cm; Số hạt chắc/ bông 140 - 150 hạt, tỷ lệ lép 5 - 7%; Năng suất trung bình từ 80 - 85 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 90- 95 tạ/ha; Dạng hạt bầu, chất lượng gạo trung bình; Ít nhiễm sâu bệnh hại chính, chống đổ tốt.
Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40- 50kg/ha.

1.6. Giống lúa lai 3 dòng Nhị ưu 986: Do công ty TNHH giống cây trồng Minh Phong, Phúc Kiến Trung Quốc lai tạo, Công ty cổ phần Nông nghiệp Kỹ thuật cao Hải Phòng nhập nội đưa vào khảo nghiệm. Giống Nhị ưu 986 có TGST vụ ĐX 115 - 120 ngày, HT 105 - 110 ngày; Chiều cao cây 105 – 110cm; Số hạt chắc/ bông 105 – 110 hạt, tỷ lệ lép 15 – 20%; Năng suất từ 70 - 80 ta/ ha; thâm canh đạt 90 - 95 tạ/ha; Dạng hạt bầu, chất lượng gạo trung bình khá; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh khô vằn, bệnh đạo ôn, chịu nóng khá, chống đổ tốt.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50kg/ha.

1.7. Giống lúa lai 3 dòng Nhị ưu 838 KBL: Do Công ty CP Giống cây trồng miền Nam đưa vào khảo nghiệm. Giống Nhị ưu 838 KBL có TGST vụ ĐX 115 – 120 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; Chiều cao cây 108 – 110 cm; Số hạt chắc/ bông 105 – 110 hạt, tỷ lệ lép 18 – 20%; Năng suất từ 70 – 75 tạ/ha, thâm canh đạt 80 – 85 tạ/ha; Dạng hạt bầu, chất lượng gạo khá, cơm ngon trung bình; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.
Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất tốt, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.8. Giống lúa lai 2 dòng TH3-3
: Do PGS.TS. Nguyễn Thị Trâm, ThS. Trần Văn Quang và CTV Viện Công nghệ sinh học Nông nghiệp, Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội chọn tạo. Giống TH3-3 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 90 – 95 ngày; Năng suất 55 – 60 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo khá, cơm mềm; Nhiễm nhẹ rầy nâu, nhiễm nhẹ bệnh khô vằn, ít nhiễm bệnh đạo ôn; Cứng cây chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh trung bình. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.9. Giống lúa lai 2 dòng Việt Lai 20: Do PGS.TS. Nguyễn Văn Hoan, Vũ Hồng Quảng và CTV Trường Đại học Nông nghiệp I chọn tạo. Giống Việt lai 20 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, HT 90 – 95 ngày; Năng suất 65 – 75 tạ/ha, thâm canh đạt 80 – 85 tạ/ha; Chất lượng gạo khá, phẩm chất cơm khá; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chịu nóng khá, chịu mặn khá, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì trung bình, đất vàn, đất ven biển. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.10. Giống lúa lai 3 dòng Nghi Hương 2308: Là giống lúa lai Trung Quốc nhập nội vào Việt Nam. Giống Nghi hương 2308 có TGST vụ ĐX 118 – 123 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; Năng suất 70 – 75 tạ/ha, thâm canh đạt 80 – 85 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, cơm thơm ngon; Nhiễm rầy nâu trung bình, ít nhiễm bệnh đạo ôn, khôn vằn; Chống đổ khá, chịu lạnh khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.11. Giống lúa lai PAC807: Do Công ty Cổ phần giống cây trồng miền Nam nhập nội từ Ấn Độ. Giống có TGST vụ ĐX 108 – 113 ngày, vụ HT 103 – 108 ngày; số hạt/bông 145 – 150 hạt, tỷ lệ lép 12 – 15%; Năng suất trung bình 65 – 70 tạ/ha, chất lượng gạo khá, com mềm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có dộ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 40 – 50 kg/ha.

1.12. Giống lúa lai 3 dòng HYT100: Giống lúa lai 3 dòng HYT100 do trung tâm Nghiên cứu và phát triển lua lai, Viện Khoa học kỹ thuật Nông nghiệp Việt Nam lai toạ năm 1999. Giống HYT100 có TGST vụ ĐX 110 - 115 ngày, vụ HT 105 - 110 ngày; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; khối lượng 1.000 hạt 26 - 27gam; dạng hạt dài; Năng suất trung bình 60 - 65 tạ/ha; chất lượng gạo khá, com thơm ngon, có vị đậm.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn cao, vàn và vàn thấp, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 40 - 50 kg/ha.

1.13. Giống lúa lai 3 dòng PHB71: Giống lúa lai 3 dòng PHB71 do Công ty Pioneer Hi-Bred Internatitional - Hoa Kỳ lai tại, được nhập nội vao Việt Nam từ Ấn Độ. Giống PHB71 thuộc nhóm ngắn trung ngày. Năng suất trung bình từ 60 - 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 - 85 tạ/ha; Chất lượng gạo khá, cơm mềm, và ngon; Chống chịu tốt bệnh dạo ôn, nhiễm trung bình rầy nâu.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn cao, vàn và vàn thấp, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 40 - 50 kg/ha.

1.14. Giống lúa lai HR3: Giống HR3 do TS. Nguyễn Như Hải và cộng sự - Trung tâm Khảo kiểm nghiệm giống, sản phẩm cây trồng và phân bón Quốc gia lai tạo. Giống HR3 có thời gian sinh trưởng thuộc nhóm chín sớm. Năng suất trung bình đạt từ 60 - 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 tạ/ha; chất lượng cơm khá; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn cao, vàn và vàn thấp, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 40 - 50 kg/ha.

2. Lúa thường

2.1. Giống BC15: Do KS. Đặng Tiểu Bình, Trung tâm Khảo nghiệm và Khuyến nông Thái Bình, được Công ty Cổ phần giống cây trồng Thái Bình mua bản quyền, chọn lọc và đăng ký khảo nghiệm. Giống BC15 có TGST vụ ĐX 120 - 125 ngày, vụ HT 115 – 1120 ngày; nhiễm nhẹ rầy nâu, đạo ôn cổ bông, bệnh khô vằn; hơi yếu cây; khối lượng 1000 hạt đạt 26 - 27 gam; dạng hạt trung bình; Năng suất trung bình 65 - 70 tạ/ha, thâm canh cao đạt 80 tạ/ha; chất lượng gạo khá, cơm ngon.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn cao, vàn và vàn thấp, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.2. Giống PC10: Do Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm chọn tạo từ tổ hợp lai Khang dân/MTL195. Giống PC10 có TGST từ 105 – 110 ngày; chiều cao cây 95 - 100cm; số hạt/bông 130 – 135 hạt, tỷ lệ lép 12 – 15%; khối lượng 1.000 hạt 23 – 24g; Năng suất trung bình 55 – 60 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 70 tạ/ha; chất lượng gạo khá, com mềm và thơm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ tốt.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất khác nhau, là giống chịu thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.3. Giống ML202: Do Trại giống lúa Ma lâm, Trung tâm Giống cây trồng tỉnh Bình Thuận chọn tạo và đưa vào khảo nghiệm. Giống ML202 có TGST vụ ĐX 112 – 117 ngày, vụ HT 95 – 100 ngày; Chiều cao cây 100 – 102 cm; Số hạt chắc/ bông 99 – 105 hạt, tỷ lệ lép 10 – 15%; Năng suất 60 – 65 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Nhiễm nhẹ rầy nâu, ít nhiễm bệnh đạo ôn và khô vằn; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.4. Giống RNT3: Do TS. Lưu Văn Quỳnh và cộng sự Viện KHKT Nông nghiệp Duyên hải Nam trung bộ chọn lọc từ giống ML202 theo hướng kháng rầy nâu và bệnh vàng lùn, lùn xoắn lá. Giống RNT3 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 93 – 98 ngày; Năng suất 65 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 75 – 80 tạ/ha; Ít nhiễm rầy nâu, bệnh đạo ôn và khô vằn; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.5. Giống SH14: Do Viện cây lương thực, cây thực phẩm chọn tạo và đưa vào khảo nghiệm. Giống SH14 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 103 – 108 ngày; Chiều cao cây 105 – 112 cm; Năng suất 60 – 65 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.6. Giống MT36: Do Công ty TNHH giống cây trồng miền Trung chọn lọc và đưa vào khảo nghiệm. Giống MT36 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 103 – 108 ngày; Năng suất 60 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 75 – 80 tạ/ha; Chất lượng gạo trung bình, cơm ngon trung bình; Nhiễm bệnh đạo ôn trung bình, nhiễm nhẹ khô vằn đốm nâu, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn trung bình. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.7. Giống OM4495: Do Nguyễn Thị Lang, Bùi Chí Bửu và cộng tác viên Viện Lúa Đồng bằng sông Cửu Long chọn tạo. Giống OM4495 có TGST vụ ĐX 105 – 110 ngày, vụ HT 95 – 100 ngày; Năng suất 50 – 60 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, cơm dẻo và ngon; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, hơi yếu cây, chống đổ trung bình.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất cao, chủ động tưới tiêu, thâm canh trung bình. Lượng giống gieo sạ 80 – 100 kg/ha.

2.8. Giống P13: Do Viện Cây Lương thực và Cây Thực phẩm chọn tạo. Giống P13 có TGSt 115 – 120 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; Chiều cao cây 110 – 115 cm; Số hạt chắc/bông 130 – 140 hạt; Năng suất 55 – 60 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, hạt gạo dài trong, cơm ngon, dẻo và có mùi thơm nhẹ; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn trung bình, thâm canh khá. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.9. Giống SH.2: Do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc. Giống SH2 có TGST vụ ĐX 113 – 118 ngày, vụ HT 90 – 95 ngày; Năng suất 65 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 80 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, hạt gạo trong, cơm ngon mềm và ráo, vị đậm có mùi thơm nhẹ; Nhiễm nhẹ rầy nâu, ít nhiễm bệnh đạo ôn, khô vằn; Cứng cây chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn cao, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.10. Giống PC6: Do Viện Cây lương thực và Cây thực phẩm chọn lọc. Giống PC6 có TGST vụ ĐX 115 – 120 ngày, vụ HT 90 – 95 ngày; Năng suất 65 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 75 – 80 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, hạt gạo trong, cơm ngon dẻo, vị đậm có mùi thơm nhẹ; Nhiễm nhẹ rầy nâu, ít nhiễm bệnh đạo ôn, khô vằn; Chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất vàn, vàn trung bình và vàn cao, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 – 90 kg/ha.

2.11. Giống ĐT34: Do Công ty CP giống cây trồng Quảng Ninh chọn tạo. Giống ĐT34 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; Chiều cao cây 112 – 114 cm; Số hạt chắc/bông 100 – 125 hạt; Năng suất 60 – 65 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, cơm ngon; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, cứng cây, chống đổ tốt.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 - 90 kg/ha.

2.12. Giống HT6: Do Viện cây lương thực, cây thực phẩm chọn tạo. Giống HT6 có TGST vụ ĐX 110 – 115 ngày, vụ HT 103 – 108 ngày; Chiều cao cây 112 – 114 cm; Số hạt chắc/bông 100 – 120 hạt; Năng suất 60 – 65 tạ/ha, thâm canh đạt 70 – 75 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ tốt.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 80 - 90 kg/ha.

2.13. Giống NH6: Do Trường Đại học Nông Lâm Huế chọn tạo và đưa vào khảo nghiệm. Giống NH6 có TGST vụ ĐX 115 – 120 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày; chiều cao cây 98 – 102 cm; Số hạt chắc/bông 110 – 115 hạt; Năng suất 60 – 70 tạ/ha, thâm canh đạt 75 – 80 tạ/ha; Chất lượng gạo tốt, hạt gạo dài và trong, cơm mềm và thơm ngon; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 - 100 kg/ha.

2.14. Giống Nàng hoa 9: Giống Nàng hoa 9 do KS. Lê Hùng Lân chon tạo. Giống Nàng hoa 9 có TGST thuộc nhóm chín trung ngày. Năng suất trung bình từ 55 - 65 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 75 tạ/ha; chất lượng gạo khá, cơm mềm và có vị đậm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 - 100 kg/ha.

2.15. Giống TBR36: Do Công ty Cổ phần giống cây trồng Thái Bình chọn tạo. Giống TBR36 có TGST vụ ĐX 110 - 115 ngày, vụ HT 105 - 110 ngày. Năng suất trung bình 65 - 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 tạ/ha; chất lượng gạo khá, cơm mềm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 - 100 kg/ha.

2.16. Giống TBR45: Do Công ty Cổ phần giống cây trồng Thái Bình chọn tạo. Giống TBR45 có TGST vụ ĐX 110 - 115 ngày, vụ HT 105 - 110 ngày. Năng suất trung bình 60 - 70 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 tạ/ha; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 - 100 kg/ha.

2.17. Giống DH46-1: Do Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn tạo. Giống DH46-1 có TGST vụ ĐX 110 - 115 ngày, vụ HT 105 - 110 ngày. Khối lượng 1.000 hạt từ 24 - 25gam. Năng suất trung bình 60 - 65 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 80 tạ/ha; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 - 100 kg/ha.

2.18. Giống DH40: Do Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn tạo. Giống DH40 có TGST vụ ĐX 112 – 117 ngày, vụ HT 105 – 110 ngày. Khối lượng 1.000 hạt 23,5 – 24,5 gam; Năng suất trung bình 60 – 65 tạ/ha, phẩm chất gạo khá; Ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 - 100 kg/ha.

2.19. Giống AN13: Do Viện Khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp Duyên hải Nam Trung bộ chọn tạo. Giống AN13 có TGST vụ ĐX 110 – 118 ngày, vụ HT 105 – 112 ngày; Năng suất trung bình từ 62 – 65 tạ/ha; chất lượng gạo khá, cơm mềm; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính; chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 - 100 kg/ha.

2.20. Giống QNam 1 (CT2): Do Chi Cục Bảo vệ thực vật Quảng Nam chọn tạo. Giống CT2 có TGST vụ ĐX 110 - 115 ngày, vụ HT 105 - 110 ngày. Năng suất trung bình từ 60 - 65 tạ/ha, thâm canh tốt đạt 75 - 80 tạ/ha, chất lượng gạo khá, cơm ngon; ít nhiễm các loại sâu bệnh hại chính, chống đổ khá.

Hướng sử dụng: Thích hợp gieo cấy vụ Đông Xuân và Hè Thu tại các tỉnh Duyên hải Nam Trung bộ và Tây Nguyên, trên các chân đất có độ phì khá, thâm canh cao. Lượng giống gieo sạ 90 - 100 kg/ha.

TRUNG TÂM KHẢO, KIỂM NGHIỆM
GIỐNG SẢN PHẨM CÂY TRỒNG VÀ PHÂN BÓN
VÙNG MIỀN TRUNG- TÂY NGUYÊN

TRAN VAN MANH
Center for Plant and Fertilizer Testing in Central region and central Highlands
National Center for Plant and Fertilizer Testing (NCPAFT)
Office add: No 291 Hung Vuong str., Quang Ngai city
Mobi: 0905. 36 33 99
Home tel: (+84) 55 3 677129

Trở về trang chính
CÂY LƯƠNG THỰC; FOOD CROPS
Dạy và học ĐHNLHCM
Gia đình nông nghiệp
NGỌC PHƯƠNG NAM, DẠY VÀ HỌC

11/9/11

Bài học thực tiễn từ người Thầy



NGỌC PHƯƠNG NAM. Đọc bài "Giúp châu Phi trồng lúa bài toán được và mất" của TS. Tô Văn Trường viết về giáo sư Võ Tòng Xuân, tôi nhớ về bài học an sinh và chiến lược kết nối Nam - Nam của Chủ tịch Nước Nguyễn Minh Triết cùng lời dặn của thầy Norman Boulaug: "Đời người tối thiểu phải ăn, kế đến là học tập, công việc, nhà ở, quần áo và chăm sóc sức khỏe. Quanh ta còn nhiều mảnh đời bất hạnh. Hiểm họa nghèo đói vẫn bùng phát bất cứ lúc nào. Hãy luôn nhớ điều đó". Giáo sư Võ Tòng Xuân có nhiều tâm sự khi trồng lúa giúp châu Phi, khác với ý kiến của anh Hoàng Kim (Đồng Tháp),"Giúp bạn cũng là tự giúp mình !". Tôi, Hoàng Kim (Đại học Nông Lâm) liên tưởng đến "Chuyện bếp gas nhiên liệu sinh học", hiện đã là tiến bộ kỹ thuật rộng lớn tại Nigeria. Nó được gợi mở ý tưởng qua học hỏi kinh nghiệm thực tiễn từ Việt Nam. Các đoàn chuyên gia dầu khí và nghề sắn của châu Phi đã đến Việt Nam. Họ thăm ruộng sắn và nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học, thăm thu hoạch sắn và học trên đồng cùng nông dân và sinh viên. Họ đến thặm gia đình chúng tôi và "Chuyện bếp gas nhiên liệu sinh học" thật ngoạn mục .Sau khoa học kỹ thuật, giáo dục đào tạo là công nghệ và tổ chức sản xuất. Bài học thực tiễn từ người Thầy thật thấm thía!

GIÚP CHÂU PHI TRỒNG LÚA BÀI TOÁN ĐƯỢC VÀ MẤT!

Tô Văn Trường

Nhân đọc bài “Sang Châu Phi trồng lúa” đăng trên báo Sài gòn tiếp thị, tác giả Huỳnh Kim bức xúc, viết bài “Tại sao bỗng dưng nhẩy tưng sang Châu Phi lập liên doanh trồng lúa” đặt vấn đề rất cụ thể những nhà khởi xướng, Bộ Nông nghiệp & Phát triển nông thôn cụ thể là Chính phủ Việt Nam phải trả lời thỏa đáng cho nông dân Việt Nam các câu hỏi : Việt Nam được lợi gì khi đầu tư trồng lúa ở Châu Phi? Và việc phát triển cây lúa ở Châu Phi có mất thị trường xuất khẩu gạo của nông dân Việt Nam, do tạo thêm cạnh tranh về xuất khẩu gạo hay không? Lợi đâu không thấy, có đâu mà thấy (?!). Nếu có thì quí vị hãy trưng ra. Tôi chỉ thấy toàn là tai hại cho nông dân Việt Nam, và nền kinh tế Việt Nam.

Để khách quan và khoa học, tôi chuyển nguyên văn bài viết của tác giả Hoàng Kim đến một số chuyên gia, nhà khoa học ở trong và ngoài nước và một số “lão nông tri điền” để tham vấn.

Thứ nhất là một số người đồng ý chia sẻ với nỗi lo của tác giả Hoàng Kim đứng trên lập trường lợi ích của người nông dân về thị trường xuất khẩu gạo của Việt Nam sẽ bị ảnh hưởng và Việt Nam sẽ mất “bí kíp” trồng lúa! Tuy nhiên, lại khẳng định nhưng làm gì có chuyện thành công mà lo. Ngay ở Phillipine có trụ sở Viên nghiên cứu lúa quốc tế (IRRI) nhưng bao năm nay, người Phi vẫn phải nhập lúa gạo hàng năm. Đối với Châu Phi, nhiều nước độc lập khỏi ách thực dân, được Liên HIệp Quốc giúp đỡ mà đói vẫn hoàn đói, có độc lập nhưng có ngày nào yên. Vậy là vấn đề nằm ở chỗ khác chứ không phải người Châu Phi không sản xuất được lương thực.

Thứ hai là hầu hết các ý kiến phân tích cho rằng chuyện về xuất khẩu cây lúa quả là chuyện đáng suy nghĩ. Câu chuyện chắc phải nhìn nhận trên nhiều khía cạnh về chính trị, kinh tế xã hội và trong khung cảnh hội nhập toàn cầu chính sách hợp tác kinh tế toàn diện kể cả cơ hội đầu tư. Việt Nam đưa người đi giúp các nước trồng lúa là đúng đạo lý. Nhìn lại lịch sử phát triển nông nghiệp của Việt Nam biết bao loại giống cây trồng, vật nuôi, và các kỹ thuật canh tác đều ít nhiều có bàn tay giúp đỡ, chuyển giao của các chuyên gia, và các nước tiên tiến đi trước. Nhiều chuyên gia về nông nghiệp của Việt Nam được đào tạo, trưởng thành từ nước ngoài rồi về nước giúp phát triển nông nghiệp trong đó có cây lúa. Tinh thần cạnh tranh mà các nước phát triển đang áp dụng là làm sao mình tiến bộ hơn đối thủ để chiếm thị trường và lợi nhuận, chứ không phải là chèn ép, mong đối thủ kém đi để mình có ưu thế! Không kể là về tinh thần nhân đạo, không thể nói mình cứ mong muốn các nước Châu Phi cứ đói nghèo hoài để nông dân mình có cơ hội bán gạo cứu đói. Trong một nước cũng vậy, chúng ta nghĩ sao nếu có người cứ cầu mong cho có bão lụt để bán được nhiều mì gói cứ trợ! Trong thời đại toàn cầu hóa hiện nay khi mất an ninh lương thực ở bất cứ nơi đâu thì sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi người trên thế giới.

Việt Nam không nhất thiết phải cố gắng để xuất khẩu 6-7 triệu tấn gạo. Thái Lan đang giảm số lượng gạo để tăng tỉ trọng gạo chất lương để không ảnh hưởng đến kim ngạch xuất khẩu. Diện tích đất trồng lúa của Việt Nam chỉ bằng 40% của Thái Lan (4,1 triệu ha so với gần 10 triệu ha) nên phải trồng giống lúa năng suất cao, nhu cầu phân bón nhiều, giá thành tăng. Trên thế giới ngày càng có nhiều nước tham gia xuất khẩu gạo và tiềm năng cao, còn một số nước đang nhập cũng có chiến lược tự túc như Indonesia, Philipine. Do đó, việc cạnh tranh xuất khẩu gạo là đương nhiên. Về kinh tế ta cũng đâu có được nhiều từ xuất khẩu gạo, đó là chưa kể, Việt Nam có lợi thế rất lớn trong sản xuất lúa nên năng lực cạnh tranh khá cao. Thực ra, trồng lúa không có lợi nhuận cao như các cây trồng khác nhưng nông dân Việt Nam vẫn phải tiếp tục trồng lúa vì nhiệm vụ an ninh lương thực toàn cầu và nhà nước cần có lợi thế về xuất khẩu gạo để trao đổi về các quyền lợi về kinh tế khác và uy tín chính trị trên toàn cầu. Theo mô hình cơ bản trong lý thuyết thương mại quốc tế của Hechscher-Ohlin, một quốc gia sẽ có lợi thế xuất khẩu những mặt hàng thâm dụng những nguồn lực dư thừa của nó. Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp không có nguồn vốn tài chính dồi dào, thế mạnh của Việt Nam trong cạnh tranh quốc tế là nguồn lực lao động sẵn có và rẻ tiền. Với lý thuyết lợi thế so sánh của Ricardo, các mặt hàng nông lâm thủy sản Việt Nam vẫn còn sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới.

Nhìn dưới góc độ ngành nghề khác, cũng có kinh nghiệm đáng tham khảo. Ngày trước, khi ngành may mặc không phát triển, ai có nghề may đều rất giấu nghề. Rồi có một giai đoạn các trường dạy cắt may mở ra và phát triển. Ngày đó mọi người cứ nghĩ rằng ai cũng biết tự cắt may thế này thì các hiệu may thất nghiệp. Nhưng đã có một ông thợ may giỏi ngày đó rất tích cực đi dạy các lớp cắt may nói rằng quan niệm thế là nhầm. Khi mọi người có hiểu biết nhiều về cắt may tức là họ sẽ biết cách ăn mặc đẹp hơn. Khi có nhu cầu ăn mặc đẹp hơn thì các hiệu may sẽ càng đắt khách. Câu nói đó của ông thợ may ngày đó khiến mọi người khó hiểu và không tin được. Nhưng rồi thời gian đã chứng minh là ông đúng.

Trong bài viết, tác giả Hoàng Kim đề cập đến việc GS. TS Võ Tòng Xuân là một nhà khoa học lớn, một nhân cách lớn, nên có một tâm hồn lớn. Việc Giáo sư bất nhẫn trước nạn đói của châu Phi nên muốn giúp các nước châu Phi trồng được lúa để hết đói là một việc thiện, cho nên Giáo sư chủ trì chương trình “An toàn lương thực Tây Phi Châu – Sierra Leone” là điều có thể hiểu được nhưng không nên lẫn lộn giữa việc thiện của một cá nhân và việc hợp tác vì quyền lợi song phương của hai quốc gia. Là người trong cuộc mắt thấy, tai nghe, tay làm trong đợt đi khảo sát thực tế ở Sierra Leon cùng với Gs Võ Tòng Xuân, xin được trình bày rõ hơn với bạn đọc.

Ngưỡng mộ và ấn tượng trước các thành tích về phát triển lương thực của Việt Nam, đặc biệt là kỹ thuật trồng lúa năng suất cao của Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), năm 2005 tiến sỹ Sama Monde Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone đã đến thăm và đặt vấn đề nhờ đại học An Giang sang giúp xây dựng chương trình an ninh lương thực cho Sierra Leone. Năm 2006, GSTS Võ Tòng Xuân Hiệu trưởng trường đại học An Giang đã đến Sierra Leone làm việc với Phó Tổng thống Solomon Berawa, Bộ trưởng Sama Monde về chương trình nói trên. Sau khi đi khảo sát thực địa, 2 bên thống nhất lựa chọn vùng Mange Bureh thuộc huyện Port Loko làm khu thí điểm trồng lúa. Vấn đề đặt ra là làm sao có được nguồn kinh phí để có thể bắt tay vào việc xây dựng khu thí điểm này?
Sierra Leone là quốc gia nằm ở Tây Phi có diện tích 71.740 km2, dân số hơn 5 triệu người, có nhiều tiềm năng về tài nguyên (đất đai, nguồn nước, khoáng sản…) nhưng vì mới trải qua cuộc nội chiến, cơ sở vật chất rất nghèo nàn, lạc hậu, lương thực phải nhập khẩu hơn 90%, ngay Thủ đô là Freetown cũng thiếu điện nước trầm trọng, nhiều phố phải thắp đèn dầu và hình ảnh người dân từ già đến trẻ phải nhẫn nại đi đội nước mang về dùng trở thành khá phổ biến trên các đường phố.


GS Võ Tòng Xuân và TS Tô Văn Trường đang khảo nghiệm cây lúa trong nhà lưới làm đối chứng tại Mange Bureh

Từ ngày 12/11/2007 đến ngày 22/11/2007 đoàn chuyên gia Việt Nam đã tiếp tục đến làm việc về tiến trình của dự án với các quan chức của Phủ Tống thống và Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone. Đoàn gồm có: GSTS. Võ Tòng Xuân- Hiệu trưởng Đại học An Giang, TS. Tô Văn Trường- Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, KS. Đặng MinhSơn- Tổng giám đốc Công ty tư vấn đầu tư và Xây dựng quốc tế (ICIC). Đoàn đã đi khảo sát thực địa, đánh giá sơ bộ kết quả bước đầu, thảo luận với người dân địa phương và các quan chức liên quan.




Thảo luận về phương án thiết kế công trình thủy lợi tại hiện trường

Từ ngày 12/11/2007 đến ngày 22/11/2007 đoàn chuyên gia Việt Nam đã tiếp tục đến làm việc về tiến trình của dự án với các quan chức của Phủ Tống thống và Bộ Nông nghiệp và An ninh lương thực Sierra Leone. Đoàn gồm có: GSTS. Võ Tòng Xuân- Hiệu trưởng Đại học An Giang, TS. Tô Văn Trường- Viện trưởng Viện Quy hoạch Thủy lợi miền Nam, KS. Đặng MinhSơn- Tổng giám đốc Công ty tư vấn đầu tư và Xây dựng quốc tế (ICIC). Đoàn đã đi khảo sát thực địa, đánh giá sơ bộ kết quả bước đầu, thảo luận với người dân địa phương và các quan chức liên quan.

Việc lựa chọn khu thí điểm hơn 100 ha để trồng lúa ở Mange Bureh là hoàn toàn thích hợp về điều kiện thổ nhưỡng, đất đai, nguồn nước. Giống lúa của Việt Nam đưa sang có ưu điểm là giống lúa ngắn ngày, năng suất cao so với giống lúa địa phương. Các giống lúa trồng thí điểm ở Trại nông nghiệp Rokupr (gần 1 ha) mọc khá tốt vì có đủ nguồn nước. Riêng 4 ha lúa thí điểm ở Mange Bureh phát triển không được như mong muốn vì 3 nguyên nhân (1) Cỏ tranh cao ngút đầu người, làm đất chỉ bằng thủ công không có máy cày lật hết rễ cỏ tranh nên ảnh hưởng nhiều đến cây lúa (2) Làm đất, gieo trồng vào cuối tháng 8 nên khi mùa mưa chấm dứt, không có đủ nguồn nước cung cấp cho các giai đoạn phát triển của cây lúa (ra lá, đẻ nhánh, làm đòng, trổ chín) và (3) bón phân và thuốc trừ sâu đều thiếu so với yêu cầu phát triển của cây lúa.



Đoàn chuyên gia Việt Nam thảo luận về chương trình an ninh lương thực tại Dinh Tổng thống.

Về quy hoạch và thiết kế các công trình thủy lợi, đã khảo sát đo đạc bình đồ, thiết kế sơ bộ hệ thống cấp nước (trạm bơm, kênh, cống điều tiết) cho khu trồng lúa. Tuy nhiên, do các công trình được thiết kế tính toán trên cơ sở tính lưu lượng tưới theo mực nước sông ở Little Scarcies, chưa xây dựng sơ đồ tính toán thủy lực bằng phần mềm HEC-RAC cho mực nước đầu kênh theo hệ thống nên công trình thiết kế thiên về an toàn, không được kinh tế. Mặt khác, do không có điều kiện khoan thăm dò địa chất nên không so sánh phương án trạm bơm đặt trên đường ray so với đặt trên phao nổi theo chế độ của thủy triều. Qua đợt khảo sát thực địa này, đoàn công tác đã quyết định phải điều chỉnh lại thiết kế hệ thống công trình thủy lợi cả về quy mô và kích thước. Sự điều chỉnh này đã giảm được kinh phí hơn 100 nghìn đô la so với thiết kế ban đầu. Cũng từ kết quả khảo sát, đoàn cũng đã xác định lại diện tích có khả năng trồng lúa ở đây chỉ vào khoảng 112 ha chứ không phải là 200 ha như ước tính ban đầu của phía bạn. Căn cứ vào tính hình thực tế và rút kinh nghiệm bài học thất bại của Đài Loan khi đầu tư xây dựng khu thí điểm trồng lúa năm 1961 và Trung Quốc năm 1972 ở Mange Brreh, chúng tôi nhận thấy:

Mô hình sản xuất ở Mange Bureh chỉ nên trồng lúa 2 vụ trong mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 hàng năm để tận dụng ưu điểm của vùng này là hàng năm có lương mưa rất lớn khoảng 3.000 mm/năm, và giống lúa của Việt Nam khoảng 90 ngày rất thích hợp 2 vụ trong mùa mưa. Công trình thủy lợi chủ yếu tưới tiêu hỗ trợ theo thời kỳ sinh trưởng của cây lúa. Nếu bố trí vụ lúa thứ 3 vào mùa khô, theo tính toán của chúng tôi, chỉ riêng tiền mua xăng dầu để chạy máy bơm còn đắt hơn tiền nhập khẩu lương thực và sau này có bàn giao thì người dân địa phương cũng không thể thực hiện vì lý do kinh tế. Vụ lúa thứ 3 sẽ được trồng trong mùa khô, khi Chính phủ phát triển thủy điện để vừa có điện chạy máy bơm, vừa cung cấp cho sinh hoạt và các hoạt động kinh tế khác. Tiềm năng thủy điện của Sierra Leone còn rất lớn, chưa được khai thác. Để đảm bảo chương trình an ninh lương thực và phát triển kinh tế bền vững cần phát triển “mô hình kinh tế trang trại” trồng trọt, chăn nuôi và đánh bắt, với sản phẩm chính vẫn là 2 vụ lúa trong mùa mưa (theo mô hình sản xuất của nông dân An Giang). Vụ thứ 3 chủ yếu trồng mè, đậu phộng (theo mô hình sản xuất của nông dân Tây Ninh). Các loại hoa màu có giá trị kinh tế cao như bắp cải, củ cải, ớt xanh, củ hành, dưa leo, cà rốt, cải xanh, gừng, xoài. Các loại cây dài hạn như mì, mía, điều, cao su, tiêu, trà, thuốc lá. Ở những vùng trũng sẽ làm ao, nuôi thủy sản nước ngọt cá, tôm; kết hợp chăn nuôi như heo, gà vv…Chương trình an ninh lương thực cho Sierra Leone cũng cần chú trọng các lớp đào tạo huấn luyện chuyển giao công nghệ, nông dân tham gia chọn tạo giống lúa ở cộng đồng và kỹ thuật sản xuất lúa giống. Bởi vì nếu người dân không biết cách tự tạo ra giống lúa nguyên chủng thì chỉ sau vài vụ sản xuất lúa sẽ bị thoái hóa vv…

Từ chương trình thí điểm ở Sierra Leone GS Võ Tòng Xuân và các nhà khoa học Việt Nam tiếp tục sang giúp Nigeria, Morambique, cộng hòa hồi giao Mauritania vv…với mục đích giúp họ “cái cần câu hơn cho xâu cá” tinh thần truyền bá “văn minh lúa Việt” để xây dựng hình ảnh thương hiệu Việt Nam có trách nhiệm với xã hội loài người và đẩy mạnh uy tín và sự cống hiến của Việt Nam với nhân loại. Đấy chính là văn hóa của người Việt, phải biết thi ân bất cầu báo, phải biết nghĩ đến hạnh phúc của người trước hạnh phúc của mình, phải biết mình vì mọi người thì mọi người mới vì mình ((Alexandre Dumas).

Mạn phép trích dẫn một vài ý chính của GS Võ Tòng Xuân mới mại cho tôi để kết luận cho bài viết này: “Tôi thường ít không thì giờ đâu mà đi tranh cải với những người có ý kiến quá thiển cận và ích kỷ , chỉ biết ngửa tay nhận mà không bao giờ cho ai cái gì cả. Nếu các nước ngoài họ cũng nghĩ như anh Hoang Kim thì chắc VN và các nước nghèo trên thế giới sẽ không có ai viện trợ cả. Nên xác nhận lại lần nữa -mà chính anh H Kim đã biết rất rõ- nông dân ta nghèo không phải vì không ai mua lúa, nhưng nghèo vì những người có quyền bán lúa đã và đang điều khiển thị trường. Trong khi cả thế giới đều được khuyến khích giúp đỡ châu Phi, thì VN chờ có ai bỏ tiền ra mới chịu đi làm công cho người ta để gọi là "giúp cho châu Phi". Chương trình của mình nhờ có CTy Long Van 28 mới goi được là viện trợ cho Sierra Leone với đúng nghĩa Việt Nam viện trợ, ta giúp cho nông dân Phi trực tiếp. Tôi xin đính chính là CTy Long Vân 28 không vì lợi nhuận nào để giúp chúng ta sang đó ngoài ý muốn giúp máy nhà khoa học VN có điều kiện sang giúp Phi. Tôi chỉ ửng hộ các chương trình mà tôi thấy rõ là chúng ta giúp nông dân Phi trực tiếp để giúp họ xóa đói giảm nghèo. Nếu chương trình liên doanh để làm giàu trên đầu trên cổ nông dân (như các công ty Trung Quốc mua đất ở các nước châu Phi rồi đưa dân họ sang sản xuất nông nghiệp, hoặc các công ty lương thực và Tổng công ty Lương thực ăn lời của nông dân VN) thì tôi không bao giờ tham gia. Mặc dù có sự giúp đỡ của mình, các nước châu Phi và nông dân của họ rất khó có thể đủ ăn được, làm gì có để xuất khẩu! Trở ngại lớn nhất là họ không bao giờ đầu tư cho thủy lợi, và không muốn dùng thủy lợi ngay khi có viện trợ hệ thống thuỷ lợi. Anh Hoàng Kim lo sợ vì không biết được cốt lõi của vấn đề. Các anh khác cũng la hoãng tương tự: nào là thương lái Trung Quốc thu tóm khoai lang của VN, nào là "các doanh nghiệp nước ngoài đang thâu tóm ngành chăn nuôi". Đời sống nông dân ta sẽ ra sao khi ta không có những doanh nghiệp nước ngoài giúp sản xuất và tiêu thụ nông sản? Mình đã thấy rõ "tài năng" của phần lớn doanh nghiệp VN - họ chơi với thương lái, ăn xỗi ở thì, để nông dân mạnh ai nấy sản xuất rồi cái gì bán được thì mụa, không được thì không mua...để cho nông dân hoàn toàn gánh lấy rủi ro. Nhân đây tôi nói thêm là mình phê phán CTy CPVN, nhưng chính họ đã cung cấp cho người chăn nuôi của ta những con giống rất tốt và thức ăn gia súc rất hiệu quả. CP vào VN một thời gian ngắn đã đánh bại hết các công ty TAGS của VN. Vì sao? Người chăn nuôi VN dù có yêu nước cách mấy đi nữa cũng không thể bỏ tiền ra nuôi mấy công ty TAGS VN với những TAGS rất tồi, nuôi gia súc lâu lớn. Tôi chưa thấy công ty TAGS nào của VN mình có một chương trình nghiên cứu. Các công ty nông nghiệp khác của ta cũng chả có nghiên cứu gì, giỏi đi copy kết quả trong sách vỡ, kể cả TCT Lương thực cũng chưa bao giờ tài trợ cho chương trình nghiên cứu cây lúa. Trong khi đó thì Công ty CP tại trụ sở chính của họ ở Bangkok mà tôi có dịp đến thăm hồi năm 1986, có một tòa nhà 4 tầng làm trung tâm nghiên cứu khoa hoc của họ. CTy mướn chuyên gia nước ngoài đến nghiên cứu, trả lương cả chục ngàn đôla/tháng, mới có được kết quả để họ ứng dụng vào chế biến TAGS, lai tạo giống gà, giống tôm. Dĩ nhiên sản phẩm họ tung ra thị trường được người chăn nuôi ưa chuông là thế.vv…

CHUYỆN BẾP GAS NHIÊN LIỆU SINH HỌC

Hoàng Kim

Bếp gas nhiên liệu sinh học từ nguyên liệu sắn lát hiện đã là tiến bộ kỹ thuật rộng lớn tại Nigeria. Ý tưởng này có được sau khi đoàn chuyên gia dầu khí và nghề sắn của Nigeria đến Việt Nam. Họ thăm ruộng sắn, nhà máy chế biến nhiên liệu sinh học, xem thu hoạch sắn, học trên đồng ruộng với nông dân và sinh viên Việt Nam sau đó thăm bếp cồn sinh học hộ gia đình và sau đó . Từ đó đã khai sinh dự án "Bếp cồn sinh học từ nguyên liệu sắn". Một việc tưởng nhỏ mà lớn. Mời bạn đọc bài này đầy dủ ở trang "Đêm trắng và bình minh"

(Trích...) Boga Boma giàu, nhỏ tuổi hơn tôi, tính rất dễ thương, người cao lớn kỳ vĩ trên 1,90 m như một hảo hán. Lần trước Boga Boma làm trưởng đoàn 15 chuyên gia Nigeria sang thăm quan các giống sắn mới và kỹ thuật canh tác sắn của Việt Nam, đúc kết trao đổi về cách sử dụng sắn trong chế biến nhiên liệu sinh học. Anh chàng hảo hán này vừa ra đồng đã nhảy ngay xuống ruộng giống mới, đề nghị tôi nhổ thử một vài bụi sắn bất kỳ do anh ta chỉ định của giống mới KM140 (mà sau này đoạt giải Nhất VIFOTEC của Hội thi sáng tạo khoa học kỹ thuật toàn quốc lần thứ 10 trao giải ngày 19.1.2010 ở Hà Nội). Boga Boma ước lượng năng suất thực tế mỗi bụi sắn này phải sáu ký. Anh đo khoảng cách trồng rồi hồ hởi đưa lên một ngón tay nói với giọng thán phục “Sắn Việt Nam số 1”

Sau buổi tham quan đó, Boga Boma ngỏ lời đề nghị với tôi cho đoàn Nigeria được đến thăm nhà riêng để “tìm hiểu cuộc sống và điều kiện sinh hoạt làm việc của một thầy giáo nông nghiệp Việt Nam”. Anh chàng chăm chú chụp nhiều ảnh về tài liệu sắn của bảy Hội thảo Sắn châu Á và mười Hội thảo Sắn Việt Nam trong một phần tư thế kỷ qua. Anh cũng chụp bếp đèn dầu dùng ga của gia đình tôi. Boga Boma cũng như Kazuo Kawano, Reinhardt Howerler, Hernan Ceballos, Rod Lefroy, Keith Fahrney, Bernardo Ospina, S. Edison, Tian Ynong, Li Kaimian, Huang Jie, Chareinsak Rajanaronidpiched, Watana Watananonta, Jarungsit Limsila, Danai Supahan, Tan Swee Lian, J. Wargiono, Sam Fujisaca, Alfredo Alves, Alfred Dixon, Fernando A, Peng Zhang, Martin Fregene, Yona Beguma, Madhavi Sheela, Lee Jun, Tin Maung Aye, Guy Henry, Clair Hershey, … trong mạng lưới sắn toàn cầu với tôi đều là những người bạn quốc tế thân thiết. Hầu hết họ đều đã gắn bó cùng tôi suốt nhiều năm. Sự tận tâm công việc, tài năng xuất sắc, chân thành tinh tế của họ trong ứng xử tình bạn đời thường làm tôi thực sự cảm mến.

Bẳng đi một thời gian, Boga Boma thông tin Nigeria hiện đã ứng dụng bếp đèn dầu dùng cồn sinh học từ nguyên liệu sắn cho mọi hộ gia đình Nigeria trong toàn quốc. Nigeria đã thành công lớn trong phương thức chế biến sắn làm cồn gia đình phù hợp với đất nước họ, làm tiết kiệm được một khối lượng lớn xăng dầu với giá rất cạnh tranh cho tiêu thụ nội địa và xuất khẩu.

Lần này trong đêm trắng ở Ghent, Boga Boma lại hí húi ghi chép và ngẫm nghĩ về ba bài học kinh nghiệm sắn Việt Nam 6M (Con người, Thị trường, Vật liệu mới Công nghệ tốt, Quản lý, Phương pháp, Tiền: Man Power, Market, Materials, Management, Methods, Money), 10T (Thử nghiệm, Trình diễn, Tập huấn, Trao đổi, Thăm viếng, Tham quan hội nghị đầu bờ, Thông tin tuyên truyền, Thi đua, Tổng kết khen thưởng, Thiết lập mạng lưới người nông dân giỏi) và FPR (Thiết lập mạng lưới thí nghiệm đồng ruộng và trình diễn để nghiên cứu cùng nông dân chuyển giao tiến bộ kỹ thuật sản xuất sắn.

Buổi chiều Yona Beguma cùng các bạn châu Phi say mê trò chuyện cùng tôi về bài học sắn Việt Nam được giới thiệu trên trang của FAO với sự yêu thích, đặc biệt là “sáu em”(6M), “mười chữ T tiếng Việt” (10T) và “vòng tròn FPR dụ dỗ”. Sau này, anh chàng làm được những chuyện động trời cho cây sắn Uganda mà tôi sẽ kể cho bạn nghe trong một dịp khác. Nhìn lớp trẻ thân thương bạn bè quốc tế đầy khát vọng tri thức đang vươn lên đỉnh cao giúp xóa đói giảm nghèo và làm giàu cho quê hương xứ sở.

Ngắm nhìn sự mê mãi của Boga Boma lúc bình minh vừa rạng lúc anh chàng đã thức gần trọn đêm. Tôi chợt nhớ câu thơ Việt Phương: “Yêu biết mấy những đêm dài thức trắng/ Làm kỳ xong việc nặng sẵn sức bền/ Bình minh đuổi lá vàng trên đường vắng/ Như vì ta mà đời cũng ửng hồng lên”.


Lessons from Vietnam (Trip report of Mr. Boma)

“Vietnam is a classic example of how cassava can contribute to rural industrialization and development. Previously, people were reluctant to grow cassava because they thought that cassava caused soil degradation and produced low profits. But in reality one hectare of cassava can produce 60-80 tones of fresh roots and leaves. The situation has changed because of the development of sustainable cultivation techniques and new high-yielding varieties with the availability of a large and growing market demand. Cassava has become a cash crop in many provinces of Vietnam. Cassava chips and starch is now being produced competitively, and cassava markets are promising. The combination of wide spread production of fresh cassava roots and the processing of cassava into chips starch and ethanol has created many jobs, has increased exports, attracted foreign investment, and contributed to industrialization and modernization of several rural areas”.






Fictures: Boga Boma and Nigerians biofuel group visit to Vietnam


HOPE RISES ON ETHANOL FROM CASSAVA



CROPS FOR BIOFUEL to follow up 234NEXT.COM. By Ayodamola Owoseye December 20, 2009. With the whole world clamouring for reduction in the burning of carbon in order to slow down the effects of global warming, Nigeria may soon be able to reduce its carbon emission by using ethanol fuel as substitute for kerosene. (Picture: Dwindling cassava cultivation inhibits the planned conversion of cassava to ethanol for energy production)

More ...



Boma Anga, the chief executive officer of Cassava Agro Industries Service Ltd (CAISL) said in a telephone interview that Nigerians will soon be able to use ethanol across the country as an option for household cooking fuel.

"Nigerians will be able to purchase ethanol fuel for cooking by March 2010," said Mr. Anga. "The cooking fuel also known as Cassakero (cassava-kerosene) will be available to the public as an alternative to kerosene in order to reduce the money spent on fuel usage by most families," Mr. Anga added.

Ethanol as substitute

The idea of looking for a substitute for the carbonised cooking fuel (kerosene) and wood came as a result of the harmful impact on the environment and climate change.

Since carbon burning has been identified as one of the reasons for climate change, the world decided to look for alternative means in terms of biofuel, which is renewable fuel derived from biological matter, for instance biodiesel, biogas, and methane which are all believed to have less hazardous impact on the ecosystem.

Mr. Anga said the Cassakero initiative was planned as substitute for kerosene and wood for Nigerians through the production of ethanol from cassava root.

"This is to promote the use of ethanol as a substitute for kerosene in the country as this will reduce the greenhouse effect caused by the use of carbon fuel. The programme is targeted toward installing about 10,000 small-scale bio ethanol refineries in the 36 states of the federation, including the FCT, over the next four years, to produce daily ethanol cooking fuel requirement for four million families," he said.

Food security

But the project is raising concerns about food security as cassava is a major staple of most Nigerians. It is used in producing flour which is made into a paste and the popular garri, eaten in most homes across the land.

Mr. Anga, however, said the project will not have any negative effect on cassava supply in the market nor will it affect food security as the companies will be using specially cultivated, industrial cassava.

"Considering the tonnes of cassava required for the project, I want to assure you that it will not endanger food security as we will be using non-edible industrial variety of cassava which will be planted on fresh land.

"We have already established a feedstock supply that will produce eight million tonnes of cassava at an average yield of 25 tonnes per hectares from 320,000 hectares to be planted nationwide. To also ensure a steady supply of cassava for the feedstock, we have signed a contract with Nigerian Cassava Growers Association (NCGA) to supply eight million tonnes of cassava tubers," he added.

He said the contract would benefit over 250,000 cassava farmers across the country with additional 400,000 hectares to be deployed for cassava cultivation as the refinery will require 40 hectares of cassava to supply 100 per cent feedstock requirement annually.

Cassava farmers welcome the initiative

Cassava farmers see this as a welcome initiative, as it will increase the market for the produce and encourage more people to embark on farming.

Jimoh Bashir, a cassava farmer, said the initiative is a good one as this will allow more farmers to cultivate the crop more, knowing that there is a market for it as compared to when farmers had to seek for buyers to buy the commodity from them.

"This is a nice initiative that we hope will last long as it will open up the market," Mr. Bashir said.

"Most of what is produced in the country is used in the food sector. Having the product used in the industries will only enhance our financial status as this means there will be more produce with a ready market. This means most of the farmers that have abandoned farming will be lured back to it," he said.

Mr. Bashir is, however, concerned about the affect of this on food production in the country as there is a tendency for farmers to change from producing edible cassava for the industrialised ones.

"This might, however, pose a threat to the production of edible cassava by farmers. Farmers will tend to concentrate more on producing the industrial cassava root with a ready market and use, than cultivating the normal ones. This might also affect the market price of the crop," he said.

Economic implications for Nigerians

With the federal government's plan to deregulate the downstream oil sector which might lead to a sharp increase in the prices of petroleum products, especially kerosene, the domestic cooking fuel for most households, the average Nigerian will have to spend more on the purchase of the product or seek alternative means such as coal or wood which will further endanger the environment.

Mr. Anga arued that ethanol will be cheaper and available for the masses as it burns slower than the normal kerosene fuel.

"The new fuel will be locally produced; and provide Nigerians with a new household fuel for use in cooking, lighting, heating, refrigeration and electricity generation. This fuel will be cleaner, safer and cheaper than kerosene without the need for government subsidy and the introductory price will be retailed at about N75 per litre," he said.

"The production and the distribution of the ethanol based appliances will create employment and wealth to investors and the nation in general. The programme will also create sustainable employment and reduce poverty and deforestation while enhancing food and energy security in the Nation.
http://www.blogger.com/img/blank.gif
"The primary goal is to make ethanol as a cooking fuel available, accessible and affordable, in a commercially profitable and sustainable manner, to low income Nigerians," he added.


xem thêm:

CASSAVA FOR BIOFUEL IN VIETNAM




Nguyen Văn Bo (1), Hoang Kim (2), Rod Lefroy (3), Keith Fahrney (3), Reinhardt Howeler (3) Hernan Ceballos (3)

ABSTRACT
Cassava in Vietnam is among the four most important food crops. But it has always been considered a secondary crop even though it has played an important role in national food security, especially during the difficulty year of the late 1970s. During the past two decades of economic renovation, Vietnam has successfully escaped lingering food deficiency. Cassava now an important source of cash income to small farmers, who either use it for animal feeding or for sale to starch factories. In 2008, cassava fresh root production in Vietnam was about 9.39 million tones, up from only 1.99 million tones in 2000. This was achieved through both area expansion, from 237,600 to 556,000 ha and marked increases in yield, from 8.36 t/ha in 2000 to 16.90 t/ha in 2008. Vietnam has developed an E10 policy requiring the production of 100 to 150 million liters per year. Petrovietnam plans to build three tapioca-based ethanol plants in the northern (Phu Tho), central (Quang Ngai) and southern Vietnam (Binh Phuoc). Each costing $80 million which will use cassava as feedstock, is expected to open in 18 months with total annual capacity of 300 million liters per year. The first and second of which is already under construction in Phu Tho and Quang Ngai. The third plant will begin in Binh Phuoc in March next year and is due to be completed at the end of 2011. The Ministry of Agriculture and Rural development (MARD) has planned to remain cassava area around 450.000 hectares from 2011 to 2015 and efforts to increase fresh root yield from 16.90 to 20.00 ton/ha in 2011 and 23.00 - 24.00 ton/ha in 2015 (MARD 7256/TB-BNN-VP 25 12 2009). Vietnam is now probably the second largest exporter of cassava products (chip and starch), after Thailand. Major markets of Vietnam’s cassava exports are China and Taiwan, Japan, Singapore, Malaysia, South Korea and countries in Eastern Europe. Besides, animal feed factories also contributed significantly to the increasing demand for cassava roots. Although in Vietnam cassava processing is a relatively new business and export volumes are still low, the cassava processing factories are new and modern. That is why Vietnam’s cassava products may have a competitive advantage in the world market. 


Key words: Cassava in Vietnam, Bio-fuel
 

1 Vietnam Academy of Agricultural Sciences (VAAS), nvbo@hn.vnn.vnn
2 Nong Lam University (NLU), Linh Trung, Thu Duc, Ho Chi Minh City, Viet Nam, hoangkim_vietnam@yahoo.com; http://cropsforbiofuel.blogspot.com

3 International Center for Tropical Agriculture (CIAT), Cali, Colombia; h.ceballos@cgiar.org ; CIAT c/o FCRI, Dept. of Agriculture, Chatuchak, Bangkok, 10900 Thailand, r.howeler@cgiar.org















Lessons from CassavaViet

Six essential conditions for a successful cassava R&D program include: Materials, Markets, Management, Methods, Manpower and Money (6 Ms).

Main experiences in linking cassava R&D activities in Vietnam include:

1) Establishment of the Vietnam Cassava Program (VNCP) including advanced cassava farmers, researchers, extension worker, managers of cassava research and development projects, cassava trade and processing companies.
2) The establishment of on-farm research and demonstration fields (farmer participation research FPR)
3) Ten mutual link-up activities (10 T – in Vietnamese):



6/9/11

Ba vấn đề nông dân trồng lúa nên quan tâm



LÚA GAP LÀ MỤC TIÊU

CÂY LƯƠNG THỰC. Ba vấn đề chính nông dân trồng lúa nên quan tâm là dụng cụ sạ lúa theo hàng IRRI SEEDER, máy gặt lúa và máy sấy lúa. GS. TS. Nguyễn Văn Luật, anh hùng lao động, nguyên Viện trưởng Viện Lúa ĐBSCL đã trả lời phóng viến Báo Nông nghiệp Việt Nam ngày 12.8.2011 nhân chuẩn bị cho “Festival lúa gạo Việt Nam ” ngày 8-14/11/2011 tại Sóc Trăng

PV: Thưa GS, về hưu không tham gia công tác quản lí, ông vẫn nặng lòng với nông dân và cây lúa?

GS. NVL: Vâng, nhưng nói “nặng tình” thì đúng hơn, nặng tình đến mức “phải lòng” nếu không nói quá. Đấy là ước nguyện của tôi mà, từ khi tự nguyện rời khỏi vị trí “giảng viên trẻ đại học NN 1 Hà Nội” để gần nông dân, gần cây lúa tính đến nay đã gần nửa thế kỷ đấy, trong thời gian đó ở ĐBSH thì tôi có góp phần đưa vụ lúa Xuân thành vụ chính; ở ĐBSCL thì góp phần đưa vụ lúa Thu Đông thành vụ lúa chính.

Thật thú vị: khi mình còn trẻ thì “nặng tình” với nông dân và cây lúa ở ĐBSH phù sa “cao tuổi” với vụ lúa xuân; Khi mình cao tuổi, hay tuổi đã sang thu thì vẫn trung thủy với hai đối tượng trên, nhưng ở vùng phù sa trẻ ĐBSCL với vụ lúa thu đông cùng với các giống lúa OMCS mà nhiều nhà báo dịch sai là “ôm em cực sướng!.

PV: Ông nói nhiều về công nghệ sản xuất mới. Xin ông cho biết, những vấn đề chính nông dân trồng lúa nên quan tâm.

GS. NVL: Hiện nay, những vấn đề chính nông dân trồng lúa nên quan tâm chính là khuyến cáo của Bộ Nông nghiệp và PTNT mới nhất. Đấy là việc thực hiện “Ba không”: Không cúi cấy; Không phơi lúa; và Không gặt lúa bằng tay. Về lợi ích kinh tế và lợi ích xã hội do khuyến cáo này đưa lại rất to lớn, chắc hẳn là bà con nông dân mình và cán bộ khuyến nông đã rõ. Tôi chỉ xin nói thêm một chút: “Ba không” cũng là một “gói định hướng kỹ thuật mở” nhằm thực hiện “Ba tăng Ba giảm”, một gói kỹ thuật mở mang tính phong trào nhằm đưa nhanh kỹ thuật mới vào sản xuất, như PCT An Giang Hùynh Thế Năng đã có nói. Vì là gói kỹ thuật mở, nên ở miền Bắc là “Không cúi cấy” còn ở ĐBSCL là “Không sạ lan lãng phí” mà dùng dụng cụ sạ lúa theo hàng. Dụng cụ này là IRRI SEEDER, vì mẫu máy của Viện Lúa Quốc tế, tôi mang về, cùng Viện tôi và doanh nghiệp tư nhân Hòang Thắng nghiên cứu cải tiến, bà con nông dân miền Tây hưởng ứng sử dụng. Đến nay miền Bắc lại áp dụng nhanh hơn, tôi rất vui về điều đó, vì quê tôi ở Hà Nội mà. Nhiều nước trồng lúa có đến tham quan rút kinh nghiệm và mua mẫu máy đã cải tiến từ Việt Nam ta mang về phát triển ở nước mình.

PV: Nông thôn mới có ý nghĩa như thế nào tới việc trồng lúa?

GS. NVL: Nông thôn mới có ý nghĩa rất quan trọng tới việc trồng lúa, là bước đi cơ bản nhất cho công nghiệp hóa và hiện đại hóa nông nghiệp, cũng là biện pháp rất thiết thực nhằm “Đền ơn đáp nghĩa” với bà con nông dân mình vốn chịu nhiều thiệt thòi. Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có nói nông nghiệp là giá đỡ cho đất nước mình đứng vững trong biến động về tài chính mấy năm qua. Và chắc chắn sẽ là giá đỡ trước biến đổi khí hậu tòan cầu (BĐKH) ngày càng phức tạp. Nhiều nhà khoa học thế giới có nói BĐKH sẽ dẫn đến thay đổi vị trí quốc gia, nước nào sản xuất được nhiều lương thực thực phẩm sẽ là cường quốc, chứ không như hiện nay, nhiều nước phát triển “hy sinh” nông nghiệp, nông dân, và nông thôn nhằm tập trung vào mấy sản phẩm công nghiệp để giầu có, họ chỉ biết “Phi công bất phú”, mà không biết “Phi nông bất an”.

PV: Hoạt động khuyến nông giữ vai trò gì trong sản xuất lúa đạt thương hiệu bền vững?

GS. NVL: Hoạt động khuyến nông giữ vai trò quan trọng trong sản xuất lúa đạt thương hiệu “Lúa gạo Việt Nam’ bền vững trên thị trường thế giới, tất nhiên là trên cơ sở phát triển sản xuất lúa bền vững. Tổ chức nòng cốt của họat động khuyến nông là Trung tâm Khuyến nông QG, và TTKN tỉnh/ thành, có màng lưới sâu rộng đến huyện, xã, ấp/ xóm.. Còn họat động khuyến nông thì có rất nhiều tổ chức và cá nhân tham gia, như cá nhân chuyên gia Nguyễn Lân Hùng luôn xuất hiện và hướng dẫn kỹ thuật rất cụ thể, từ con giun, con dế đến con kỳ đà, con dê núi; từ cây lúa cây ngô đến cây tóc gây trầm kỳ Nam.. Nếu như tổ chức khuyến nông có điều kiện quy tụ được các họat động khuyến nông thì bà con nông sẽ được hưởng lợi nhiều hơn.

PV: “Festival lúa gạo Việt Nam ” lần này tại Sóc Trăng, ông lại tham gia diễn đàn Nông nghiệp?

GS. NVL: Tất nhiên rồi. Tôi thường được Viện Lúa ĐBSCL hỗ trợ , và Cty BVTV An Giang hỗ trợ ít nhiều qua Hội Giống Cây trồng Nam bộ, nên chưa “lực bất tòng tâm ”


Xem thêm
Dụng cụ sạ lúa theo hàng (hình trên blog Nguyen D Nguyen)

Van Luat
Post theo bản email do tác giả gửi

Người theo dõi