05/04/2014

Sông MeKong tài liệu tổng hợp 4 2014



NGỌC PHƯƠNG NAM. Lưu vực sông Mekong là điểm nhấn địa chính trị – kinh tế – văn hoá – xã hội rất quan trọng của châu Á. Đó là nguồn sống, nguồn tài nguyên và nôi văn hoá, văn minh phương Đông của nhiều cộng đồng dân tộc. Thời gian gần đây có nhiều tài liệu quan tâm sâu sắc đến khu vực này, trong đó đáng chú ý nhất là các bài: Lưu vực sông Mekong địa bàn thách đố của Hoa Kỳ ; Mực nước sông Mekong xuống thấp nhất trong 30 năm; Sông Mekong và Biển Đông hai cái gai trong quan hệ Việt Trung; Dòng sông Mekong bị bức tử nguy cơ cận kề. Sông Mekong tài liệu tổng hợp tại Điểm chính, Ngọc phương Nam

Thông tin gần đây nhất là cuộc họp thượng đỉnh lần thứ hai của Hội đồng Sông Mekong từ ngày 2 đến ngày 5 tháng Tư năm 2014 tại thành phố Hồ Chí Minh. Kết quả phản ảnh tại bài viết Hiệp Định Mekong 1995 đang tan vỡ” của Phan Minh Long đăng trên Quechoa; Trước đó có thông tin Diễn đàn nhân dân với chủ đề “Dòng sông Mekong trong tương lai: Mối quan tâm của người dân về phát triển thủy điện” ngày 1 tháng 8 năm 2013 tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang. Kết quả phản ảnh tại bài viết “Thích ứng với biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long sẽ thất bại vì đập thủy điện” của Nguyễn Khánh Toàn đăng trên FB.








HIỆP ĐỊNH MEKONG 1995 ĐANG TAN VỠ
Phạm Phan Long

Mekong1
Thủy điện Don Sahong : Nguy cơ tan vỡ Hiệp ước Mêkông


Hiện Hội Đồng sông Mekong đang họp thượng đỉnh lần thứ 2 tại TP HCM từ ngày 2 đến ngày 5 tháng tư, 2014. Mười chín năm trước, vào ngày 5 tháng 4, 1995, đại diện bốn nước Lào PDR, Thái Lan, Cam Bốt và Việt Nam ký kết Hiệp Định sông Mekong và Mekong River Commission (MRC) ra đời.


Dân cư lưu vực kỳ vọng Hiệp Định quốc tế này sẽ tạo phương tiện để các nước cùng phát triển tiềm năng sông Mekong một cách bền vững theo tiêu chuẩn quốc tế. Mục đích cao cả các nước đã long trọng ký kết trong Hiệp Định là:
“To protect the environment, natural resources, aquatic life and conditions, and ecological balance of the Mekong River Basin from pollution or other harmful effects resulting from any development plans and uses of water and related resources in the Basin.” [Article 3]
“Bảo vệ môi trường, tài nguyên thiên nhiên, ngư sinh và tình trạng cân bằng sinh thái cho lưu vực sông Mekong tránh khỏi hậu quả tai hại từ bất cứ một dự án sử dụng nước và tài nguyên nào trong lưu vực.”
Không những thế các nước thành viên sẽ phải thông báo trước cho nhau các dự án sử dụng nước nội vực vào mùa mưa [Article 5. B. 1. a)], đồng thời phải tham vấn và thỏa hiệp trước với các nước khác cho các dự án mùa khô trong nội vực và tất cả các dự án ngoại vực mùa mưa hay khô [Article 5. B. 1. B) và Article 5. 2. a) và b)].

Một chuỗi 11 con đập trên dòng chính đã được đề bạt cứu xét, nhìn bản đồ của International Rivers Network đính kèm (trích). MRC trước áp lực đó, đã ký hợp đồng với ICEM, một viện nghiên cứu chiến lược Úc, độc lập với các nước Mekong, nghiên cứu về tác động của các dự án này. ICEM đã dự báo các thiệt hại kinh tế và môi sinh nặng nề cho hai nước hạ du và đề nghị các nước hãy hoãn tất cả các dự án này 10 năm để hoàn tất nghiên cứu tác động xuyên biên giới tổng hợp của chúng.

Tuy nhiên Lào, một thành viên Mekong River Commission (MRC) đã không hoãn các dự án thủy điện của Lào theo khuyến cáo của ICEM. Lào đã xây được 30% đập Xayaburi dù đã có những lần hứa không tiến hành. Ngoài ra, Lào còn thiết kế chuẩn bị xây đập Don Sahong bất chấp phản đối của 28 tổ chức môi sinh quốc tế, các NGO Cam Bốt, Việt Nam và Đại diện hai chính phủ Cam Bốt và Việt Nam yêu cần Lào tuân thủ điều khoản tham vấn và thỏa thuận.
Tình trạng Lào không tuân thủ Hiệp Định 1995 như thế sẽ khiến Cam Bốt tiến hành xây ba đập khác trên lãnh địa họ như Sesan, Stung Treng và Sambor. Như thế, cuộc đua thủy điện này sẽ tiêu diệt tòan bộ ngư sinh và kinh tế ngư nghiệp Lào, Cam Bốt và nhất là ĐBSCL của Việt Nam.
TS Lê Anh Tuấn của tổ chức Vietnam River Network đã nhận định về Don Sahong rằng: “Nếu tình trạng này tiếp tục diễn ra, thì tinh thần Mêkông đó có thể bị ảnh hưởng nặng nề, có thể bị sụp đổ, nếu chúng ta không có một giải pháp căn cơ để giải quyết, trên cơ sở đối thoại giữa các bên với nhau.”
Tổ chức Vietnam River Network đã công khai bày tỏ lo ngại về sự tan vỡ của Hiệp Định và ngày 3 tháng 10, 2013 và thư tuyên bố News Release của họ chính thức phản đối Lào về dự án Don Sahong. Các tổ chức quốc tế như Save the Mekong, International Rivers Network đều có những tuyên bố như thế. Viet Ecology Foundation từ California, HK cũng đã yêu cầu MRC và Lào xét lại hủy bỏ cả dự án Xayaburi và Don Sahong.
Ngụy biện của AECOM về dự án Don Sahong
Năm 2007, 34 chuyên gia khoa học độc lập từ Úc và Hoa Kỳ cùng ra một báo cáo chung cảnh báo các chính phủ MRC về mối nguy hại của dự án Don Sahong. Công ty chủ thầu Don Sahong là Mega First Berhad (MFCB) đã ký kết với công ty AECOM Australia-New Zealand làm cố vấn kỹ thuật cho họ. TS Steve Hawkins, đại diện của AECOM tuyên bố rằng báo cáo 2007 là hoang đường; nhưng ông không trích dẫn ra được một công trình nghiên cứu khoa học quốc tế nào phản biện ngược lại.
Gần đây Kỹ sư Graeme Boyd thuộc AECOM còn cho rằng đập Don Sahong không phải là mainstream dam. Mục đích của ông là chối bỏ mọi hậu quả nguy hại của Don Sahong, đánh lạc hướng MRC và dư luận để giúp Lào tránh né trách nhiệm tham vấn và thỏa hiệp theo Hiệp định 1995.
Theo Vientiane Times, trong một buổi họp vào tháng 11, 2103 tại Champassak, Mega First Corp Berhad, KS Graeme Boyd, đưa ra bốn lý do Don Sahong không phải là đập trên dòng chính:
1.”First and foremost that it would not block the Mekong across its full width, instead stretching across one of many channels.” Không chắn toàn thể bề ngang dòng chính, chỉ chắn một trong số những dòng chảy.
2. “The fact is that Hou Sahong is only one of many channels of the Mekong River. It only takes about 15 per cent of the flow of the Mekong, while a mainstream dam takes 100 per cent of the flow,” Chỉ lấy 15% lưu lượng nước sông Mekong không phải 100%.

3. “Really, the Don Sahong project cannot be considered as a mainstream dam because it does not span the whole of the Mekong River.” Không bắc ngang toàn bộ chiều ngang dòng sông


4. “Boyd said just 8 per cent of the river’s sediment load would pass through the dam, as opposed to 100 per cent in a mainstream dam.”Chỉ chặn 8% phù sa, không chặn 100% phù sa.


Mekong2
Bản Đồ Mekong vùng thác Khone


Cả bốn lý do của KS Boyd đưa ra có thể đúng cho Don Sahong về hình học và số học nếu chỉ nhìn các con số trong mùa mưa hay trung bình năm. Vào mùa khô khi lưu vực Mekong khát nước, lưu lượng xuống thấp, Don Sahong là dòng chảy lớn duy nhất cho nước, phù sa và di ngư. Lúc đó không có dòng chảy nào khác. Do đó kết luận Don Sahong không phải là mainstream dam của AECOM nên Lào không cần phải thỏa hiệp theo Hiệp định 1995 là hoàn toàn sai.
Thực ra nguyên tắc pháp lý của việc này rất đơn giản vì chỉ cần quy chiếu theo văn bản của Hiệp Định 1995 mà thẩm định như phần đầu bài này thì sẽ rõ không có chỗ nào trong Hiệp Định phân biệt dòng chính là phải chắn ngang 100% mặt sông.
Đây là một hiệp ước quốc tế bốn nước đã long trọng ký kết nên có hiệu lực pháp lý trước tòa án quốc tế. Ông Hans Guttman, Chief Operating Officer của MRC đã rơi vào bẫy hỏa mù của AECOM.
Theo Vientiane Times, MRC Chief Executive Officer, Hans Guttman, tuyên bố “the Mekong Agreement did not go into great detail on what is and what isn’t a mainstream project.”

Ông Hans Guttman, CEO của MRC, đã không nắm vững HĐ1995 nên đã nói:
“just because the dam was located in a part of the Mekong River did not mean it was a mainstream project.” “You can’t say they have breached the agreement…we don’t have that kind of details.”
“Khi đập tọa lạc trên một phần sông Mekong không có nghĩa là một dự án trên dòng chính” và “Không thể nói họ đã vi phạm Hiệp định … chúng tôi không có những chi tiết đó.”

Thái độ của CEO Hans Guttman đã gây thêm hoang mang và căng thẳng không thể chấp nhận được. Ông đã làm hại nặng nề uy tín của chính ông và của cả tổ chức MRC. Ông đã hậu thuẫn các cố vấn AECOM đánh lạc hướng công luận. Vì lẽ đó, ông Hans Guttman nên từ chức, rút lui trong danh dự, vì tổ chức ông lãnh đạo đã thất bại không mang về cho các thành viên một hợp tác hữu nghị có ý nghiã bền vững nào.  
 

Mekong3

Bản Đồ Các Dự Án trên Mekong (Nguồn IRN)
(Trích một số dự án)



Trích dẫn Hiệp Định 1995 Article 5. Reasonable and Equitable Utilization
To utilize the waters of the Mekong River system in a reasonable and equitable manner in their respective territories, pursuant to all relevant factors and circumstances, the Rules for Water Utilization and Inter- basin Diversion provided for under Article 26 and the provisions of A and B below:
A. On tributaries of the Mekong River, including TonLe Sap, intra-basin uses and inter-basin diversions shall be subject to notification to the Joint Committee.
B. On the mainstream of the Mekong River: 1. During the wet season: a) Intra-basin use shall be subject to notification to the Joint Committee. b) Inter-basin diversion shall be subject to prior consultation which aims at arriving at an agreement by the Joint Committee. 2. During the dry season: a) Intra-basin use shall be subject to prior consultation which aims at arriving at an agreement by the Joint Committee. b) Any inter-basin diversion project shall be agreed upon by the Joint Committee through a specific agreement for each project prior to any proposed diversion. However, should there be a surplus quantity of water available in excess of the proposed uses of all parties in any dry season, verified and unanimously confirmed as such by the Joint Committee, an inter-basin diversion of the surplus could be made subject to prior consultation.


Tác giả gửi Quê Choa
Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả 


Giới thiệu: KS Phạm Phan Long là KS cố vấn chuyên nghiệp, đã sáng lập ra hai công ty tư vấn tại California chuyên thiết kế cơ xưởng kỹ nghệ. Ông là sáng lập viên của Mekong Forum và hiện là Chủ Tịch Viet Ecology Foundation là một tổ chức NGO tại Hoa Kỳ.
(Theo Quê Choa)


Xem tiếp:



THÍCH ỨNG VỚI BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
SẼ THẤT BẠI VÌ ĐẬP THỦY ĐIỆN



@ 350.org Việt Nam Nguyễn Khánh Toàn,  3. 8. 2013

Ngày 01.08.2013 tại thành phố Long Xuyên tỉnh An Giang, Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam (VRN), Viện Sinh thái học miền Nam (SIE), Đại học An Giang cùng Liên minh Cứu trợ sông Mekong (Save the Mekong) đã phối hợp tổ chức Diễn đàn nhân dân với chủ đề “Dòng sông Mekong trong tương lai: Mối quan tâm của người dân về phát triển thủy điện” với sự tham gia của gần 150 đại biểu bao gồm đại diện cộng đồng lưu vực hạ nguồn Mekong, các tổ chức chính phủ, phi chính phủ, các nhà nghiên cứu độc lập từ các quốc gia Việt Nam, Thái Lan, Cam-pu-chia, Myanmar, Trung Quốc, Úc, Nhật Bản, Hoa Kỳ …  có mối quan tâm chung đến sông Mekong.

Diễn đàn lần này tập trung chia sẻ các thông tin mới nhất về bức tranh toàn cảnh vấn đề phát triển thủy điện trên dòng Mekong và những tác động của nó; đồng thời đóng vai trò như là một cơ hội tham vấn ý kiến các bên liên quan, tăng cường sự hợp tác, hiểu biết và trách nhiệm cũng như nâng cao tiếng nói có giá trị của người dân và các tổ chức xã hội trước vấn đề này.


Diễn đàn chuẩn bị khai mạc.

Sau bài phát biểu khai mạc của tiến sỹ Vũ Ngọc Long – Viện trưởng Viện Sinh thái học miền Nam (SIE) là thời gian trình chiếu bộ phim tài liệu How dams discrupt lives – Experiences from Mun river * (tạm dịch: Đập phá vỡ cuộc sống như thế nào – kinh nghiệm từ sông Mun) do tổ chức Mekong Watch (Nhật Bản) thực hiện đã chuyển tải thông điệp ấn tượng đến toàn thể đại biểu tham dự về bức tranh tổng quát của con sông mẹ và những rủi ro mà chúng ta đang đối mặt.

Chương trình diễn đàn bao gồm 5 phiên thảo luận chung với hơn 20 bài phát biểu tham luận tập trung mổ xẻ các vấn đề ưu tiên về con sông có chiều dài đứng thứ 12 thế giới chảy qua liên tục 6 quốc gia Châu Á này.

  • Phản ánh về đời sống người dân và giá trị của sông Mekong đối với nguồn tài nguyên của nó
  • Quan điểm của các bên liên quan đối với đập thủy điện Xayaburi và các đập dự kiến xây dựng trên dòng chính của sông Mekong.
  • Ủy hội sông Mekong và phương pháp tham vấn ưu tiên của hội đối với các đập ở lưu vực chính sông Mekong
  • Giải quyết các thách thức của đập Xayaburi và các khuyến nghị trong tương lai.
  • Trả lời các vấn đề của cộng đồng về sự phát triển thủy điện sông Mekong.
Tiến sỹ Dương Văn Ni – Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu – Thực nghiệm Đa dạng sinh học Hòa An đã mở đầu bài tham luận trung tâm với những những câu chuyện thực tế ông ghi nhận được từ người dân trong các chuyến đi thực địa “năm ngoái mỗi ngày người ta đánh được 10kg cá, bây giờ chỉ còn 3“. Ông cũng băn khoăn “Chúng ta cần trung bình 4.500 lít nước để có được 1kg gạo, vậy liệu nước ta có còn lạc quan về vị trí nhất nhì thế giới sản lượng gạo khi mà lượng nước đổ về hạ nguồn mekong có xu thế này càng giảm đi nghiêm trọng ?


Việt Nam chỉ đóng góp 11% lượng nước nhưng lại là nước tạo ra sản lượng gạo lớn nhất trong số các quốc gia mà dòng Mekong chảy qua

Tiến sỹ Lê Anh Tuấn – Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu biến đổi khí hậu – ĐH Cần Thơ (Viện DRAGON) đã lưu ý trong bài phát biểu của mình tại phiên thảo luận chung thứ 5 rằng việc phát triển thủy điện trên sông Mekong sẽ khiến công tác thích ứng với biển đổi khí hậu (BĐKH) tại vùng đồng bằng sông Cửu Long trong hiện tại sẽ gặp nhiều khó khăn và sau đó sẽ kéo theo nhiều hệ quả nghiêm trọng khác.

Trả lời câu hỏi của đại diện 350.org Việt Nam rằng vấn đề thích ứng với BĐKH có được xem xét một cách đầy đủ và phù hợp với mức độ nghiêm trọng của nó hay chưa trong quá trình tham vấn với các nước khác về đập thủy điện, tiến sỹ Tuấn cho biết “Trong thời gian qua chúng tôi đã bỏ ra từ 1 tỷ đến 2 tỷ đồng để làm chương trình thích ứng với biến đổi khí hậu trong tương lai nhưng mà hầu hết tất cả những chương trình đó đều không xem xét hoặc xem xét rất là sơ bộ về tác động của các đập thủy điện bởi vì người ta cũng không biết là 11 – 12 đập thủy điện đó khi nào xây dựng? khi nào vận hành? và vận hành thế nào?. Chúng tôi cũng đã thử nghiệm coi là nếu làm một tổ hợp các trường hợp vận hành khác nhau chúng tôi phát hiện ra rằng phải chạy một bài toán trên cả ngàn những tổ hợp khác nhau.


Bà Omboun Thipsuna, đại diện Hội đồng nhân dân 7 tỉnh Đông Bắc Thái Lan chia sẻ những quan điểm và thành quả của mình trong suốt quá trình tham vấn cộng đồng và phản đối chính phủ Thái Lan đầu tư xây dựng đập Xayaburi trên đất Lào.

Ông nhấn mạnh “Khi làm kế hoạch tổng thể (thích ứng với BĐKH) gặp vấn đề là đồng bằng sông Cửu Long sử dụng nguồn nước thế nào khi các đập thủy điện vận hành, đó là khó khăn lớn nhất. Đó là tại sao mà tôi nói rằng nó có thể sẽ phá vỡ tất cả các biện pháp thích ứng như bố trí thời vụ, tăng giống lúa chịu mặn hay chịu hạn … Đó mà bài toán còn rất lớn mà đến giờ tôi và các đồng nghiệp khác cũng chưa trả lời được.

Trong thông điệp gửi đi ở phần bế mạc diễn đàn nhằm khuyến cáo các cơ quan chức năng có nêu rõ: “Nhu cầu năng lượng vốn là lý lẽ biện minh của các dự án xây dựng các đập thủy điện cũng cần phải được xem xét nghiêm túc ở cả cấp quốc gia và khu vực. Việc phát triển năng lượng thay thế phải được thúc đẩy và đưa vào các chính sách năng lượng quốc gia cũng như khu vực.

Đồng bằng sông Cửu Long hiện là vùng đất chịu tác động nặng nề nhất của biến đổi khí hậu, nếu phải gánh thêm những hậu quả từ việc phát triển thủy điện một cách thiếu cân nhắc và thiển cận vì những nguồn lợi trước mắt, chắc chắn khủng hoảng mà chúng ta chuẩn bị phải gánh chịu là rất tồi tệ. Điều này không những ảnh hưởng đến người dân 13 tỉnh nơi đây mà sẽ là an ninh lương thực của toàn bộ quốc gia, thậm chí là cả thế giới. Không ai bảo đảm được rằng không có cá từ thượng nguồn đổ về, không có đủ nước trồng lúa thì chúng ta không cần ăn mà có thể tồn tại cùng với các đập thủy điện và nhiệt điện khắp nơi.

Tất cả chúng ta cần phải hành động và bây giờ chính là thời điểm.

Chú thích:
(*): Xem phim tài liệu tại http://bitly.com/MekongDams


@ 350.org Việt Nam
Nguyễn Khánh Toàn
Điều phối miền Nam Phong trào toàn cầu về BĐKH 350.org tại Việt Nam
Gửi về từ An Giang, ngày 01 tháng 08 năm 2013
Nguồn: https://www.facebook.com/notes/việt-nam-với-chiến-dịch-toàn-cầu-về-bdkh-350org- /thích-ứng-với-biến-đổi-khí-hậu-tại-đồng-bằng-sông-cửu-long-sẽ-thất-bại-vì-đập-th/647340331943497




CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN TRÊN HỆ THỐNG SÔNG MEKONG :
BỐI CẢNH, TÁC ĐỘNG VÀ CÁC CHÍNH SÁCH THÍCH ỨNG


Trung tâm Con người và Thiên nhiên,  27. 6. 2012

Mê Kông là một trong 10 con sông lớn nhất thế giới với tổng chiều dài khoảng 4.800 km, bắt nguồn từ Trung Quốc và chảy qua các quốc gia Myanmar, Lào, Campuchia, Thái Lan và Việt Nam. Ở phần thượng nguồn thuộc Trung Quốc và Myanmar, sông Mê Kông nhỏ hẹp, chảy mạnh, nhiều thác ghềnh và có tiềm năng lớn về thủy điện. Phần hạ nguồn, lòng sông mở rộng do được tiếp nhận nguồn nước từ rất nhiều chi lưu khác như Serepok, Se San và Sekong. Tại Phnom Phenh (Campuchia) dòng chính sông Mê-kong phân tách thành 2 nhánh, sông Tiền và sông Hậu, chảy qua địa phận các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) của Việt Nam và đổ ra biển Đông ở 9 cửa lớn. Cùng các chi lưu của nó, dòng Mê Kông đã tạo ra một lưu vực rộng lớn có diện tích khoảng 810.000 km2 với hệ sinh thái đất ngập nước vô cùng phong phú và đa dạng. Chính hệ sinh thái này đã mang lại nhiều nguồn lợi cho các quốc gia và người dân sinh sống trong lưu vực. Theo ước tính, khoảng 60 triệu người  hạ lưu vực đang phụ thuộc các vùng đất ngập nước thuộc lưu vực sông Mê Kông  trong sản xuất nông nghiệp, đánh bắt thủy sản và các hoạt động phục vụ sinh kế khác (MRC, 1997).

ĐBSCL của Việt Nam được hình thành chủ yếu từ trầm tích phù sa của sông Mê Kông và bồi dần qua các kỷ nguyên thay đổi mực nước biển. Những hoạt động hỗn hợp của sông và biển đã tạo ra vùng đồng bằng rộng lớn có  độ cao trung bình chỉ khoảng 1.5 m so với mực nước biển với những dải đất phù sa ngọt nằm xem kẽ giữa các vùng đất phèn và mặn. Do những đặc tính này, sông Mê Kông có một vai trò rất quan trọng đối với vùng ĐBSCL. Lượng phù sa từ sông Mê Kông đổ về làm hạn chế hiện tượng xói lở dọc bờ biển. Đặc biệt, các chu kỳ lũ hàng năm từ sông Mê Kông giúp ĐBSCL đẩy mặn, rửa phèn, cải tạo đất và qua đó cải thiện năng suất nông nghiệp. Ngoài ra, tương tự như các quốc gia khác trong lưu vực, sông Mê Kông còn là nguồn cung cấp nước tưới tiêu và thủy sản chính cho các tỉnh ĐBSCL của Việt Nam. Nhờ những ưu thế này, hàng năm  ĐBSCL đã đóng góp gần 60% sản lượng gạo và thủy sản cho Việt Nam dù chỉ chiếm khoảng 30%  tổng diện tích của cả nước (GSO, 2010).

Tầm quan trọng của sông Mê Kông đối với 6 quốc gia trong lưu vực là điểu không thể phủ nhận. Tuy nhiên, do sức ép của phát triển kinh tế, thiếu sự đồng thuận về lựa chọn chiến lược phát triển bền vững, các nước trong lưu vực đã và đang khai thác triệt để các nguồn lợi từ hệ thống sông Mê Kông nhằm phục vụ các ưu tiên phát triển của mình. Hoạt động phát triển kinh tế thiếu bền vững đã làm hình thái của sông Mê Kông thay đổi mạnh mẽ, đặc biệt sau những năm 1980. Theo đó, hàng ngàn hồ chứa, đập dâng, trạm bơm đã được xây dựng trên các dòng nhánh để sản xuất thủy điện, lấy nước phục vụ tưới tiêu và các nhu cầu khác của phát triển kinh tế. Phía thượng nguồn dòng chính, Trung Quốc đã và đang xây dựng 8 đập thủy điện với quy mô công suất lớn. Ở hạ nguồn, 12 đập thủy điện bậc thang cũng đang được đệ trình xây dựng, chưa kể các dự án chuyển nước từ sông Mê Kông về vùng Đông Bắc phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của Thái Lan đã được bàn luận đến trong nhiều năm qua. Việt Nam cũng phát triển tối đa hệ thống thủy lợi nhằm đáp ứng nhu cầu về nguồn nước cho hoạt động sản xuất nông nghiệp, thủy sản, định cư và giao thông thủy. Tất cả những kiến tạo đó đã, đang và sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ đến sông Mê Kông và các hệ sinh thái trong lưu vực về nguồn nước, phù sa và sự sinh tồn của các loài thủy sản.

ĐBSCL được đánh giá là vùng sẽ chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ các hoạt động phát triển kinh tế thiếu bền vững ở thượng nguồn. Cùng với tác động của biến đổi khí hậu, chiến lược phát triển trên hệ thống sông Mê Kông của các quốc gia trong lưu vực sẽ đặt ĐBSCL trước một thách thức lớn trong việc duy trì nguồn nước, phù sa và nguồn lợi thủy sản nhằm đảm bảo duy trì hệ sinh thái đất ngập nước, năng xuất sản xuất nông nghiệp và sinh kế của hơn 18 triệu người sinh sống trong vùng.

Nhận thức được tầm quan trọng của dòng Mê Kông đối với tương lai phát triển của khu vực, năm 1995, Việt Nam cùng Campuchia, Lào và Thái Lan đã ký kết Hiệp định Mê Kông về hợp tác phát triển bền vững lưu vực sông Mê Kông. Các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định này là các đề xuất phát triển trên dòng chính sông Mê Kông của các quốc gia thành viên phải được thông qua cơ chế tham vấn, thông báo trước và minh bạch thông tin. Theo đó, chính phủ các quốc gia trong lưu vực phải hợp tác chặt chẽ với nhau, cùng đối thoại, trao đổi với các bên liên quan trong nội bộ mỗi nước như chính quyền và nhân dân địa phương để tìm tiếng nói chung cho các quyết định phát triển. Trong bối cảnh đó, với vai trò là một bên tham gia quan trọng, các tổ chức xã hội dân sự Việt Nam nói chung và ở khu vực ĐBSCL nói riêng cần được cung cấp thông tin, tăng cường hiểu biết, thực hiện các đánh giá độc lập để có thể tham gia mạnh mẽ hơn đối với các chiến lược, kế hoạch phát triển trên hệ thống sông Mê Kông, nhằm góp phần bảo vệ lợi ích cộng đồng, quốc gia và sự phát triển hài hòa trong lưu vực. Đây là những lý do chính mà PanNature tổ chức Hội thảo tập huấn “Chiến lược phát triển trên hệ thống sông Mê Kông: Bối cảnh, tác động và các chính sách thích ứng”.

Hội thảo được tổ chức trong 02 ngày 22 và 23 tháng 6 năm 2012 tại thành phố Cần Thơ. Giảng viên của khóa tập huấn là các chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực hợp tác quốc tế, quản trị tài nguyên nước, phát triển thủy điện, nông nghiệp và tài nguyên môi trường. Học viên tham dự bao gồm 50 đại diện từ các cơ quan nghiên cứu, tổ chức phi chính phủ và tổ chức cộng đồng làm việc trong các lĩnh vực liên quan từ 12 tỉnh, thành ở khu vực ĐBSCL và phụ cận. Sau khóa  tập huấn này, PanNature sẽ tiếp tục phối hợp với các học viên và tổ chức tham gia để có thể triển khai các hoạt động nghiên cứu, thông tin, tăng cường năng lực và chính sách liên quan đến vấn đề giám sát phát triển ở khu vực Mê Kông.



Ảnh: PanNature.

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH
Phần I: Các chiến lược phát triển trên hệ thống sông Mê Kông: Bối cảnh và tác động
Tổng quan các chiến lược và kế hoạch phát triển trên lưu vực sông Mê Kông
Th.S Trần Thị Thanh Thủy, PanNature

Chiến lược phát triển thủy điện trên hệ thống sông Mê Kông và tác động đối với ĐBSCL
TS. Lê Anh Tuấn – Trường ĐH Cần Thơ

Phát triển nông nghiệp, thủy lợi và các áp lực về nguồn nước trong lưu vực sông Mê Kông
TS. Lê Phát Qưới – Viện Môi trường và Tài nguyên

Hoạt động phát triển, vấn đề suy thoái nguồn nước và các tác động đối với hệ sinh thái lưu vực sông Mê Kông
TS. Lê Phát Qưới – Viện Môi trường và Tài nguyên

Thảo luận nhóm: Đánh giá tác động tiềm ẩn của phát triển trên lưu vực sông Mê Kông đối với Việt Nam và các ưu tiên cần giải quyết đối với ĐBSCL.
Phần 2:  Sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự trong phát triển lưu vực Mê Kông
Giới thiệu về Hiệp định Mê Kông 1995: Nguyên tắc và cơ chế tham gia của các tổ chức xã hội dân sự
TS. Lê Anh Tuấn – Trường ĐH Cần Thơ

Sự tham gia và kinh nghiệm của một số tổ chức xã hội dân sự của các quốc gia khác  trong việc thúc đẩy phát triển bền vững  lưu vực sông Mê Kông
Ông Trịnh Lê Nguyên – PanNature

Phần 3:  Xây dựng ý tưởng nghiên cứu và đánh giá chính sách ở khu vực ĐBSCL
Chính sách công và vai trò của XHDS
Th.S Trần Thị Thanh Thủy, PanNature

Phương pháp luận, các bước và công cụ cần thiết  trong  quá trình phân tích và đánh giá chính sách
Th.S Trần Thị Thanh Thủy, PanNature

Xác định nội dung ưu tiên cho hoạt động giám sát, phản biện và vận động chính sách phát triển vùng lưu vực Mê Kông của tổ chức xã hội dân sự khu vực ĐBSCL
Giới thiệu về các cơ hội tài trợ và chương trình hỗ trợ nghiên cứu chính sách của PanNature
Xây dựng các ý tưởng đề xuất nghiên cứu chính sách theo nội dung ưu tiên
TÀI LIỆU THAM KHẢO

Nguồn: Trung tâm Con người và Thiên nhiên http://nature.org.vn/vn/2012/06/chien-luoc-phat-trien-tren-he-thong-song-me-kong/



SÔNG MEKONG : THÁCH THỨC TỪ MẤT RỪNG VÀ CHUYỂN NƯỚC

vncold.vn

Liên quan đến những thách thức đối với sông Mekong, việc xây dựng các đập thủy điện đã được đề cập khá nhiều. Có ý kiến cho rằng đó còn liên quan đến sự tồn vong của dòng sông. Xin không đề cập thêm trong bài . Ít được nói đến nhưng theo tôi quan trọng không kém và gắn kết với các đập, đó là tình trạng mất rừng trong lưu vực và vấn đề chuyển nước ra khỏi lưu vực.


Cái giá mất rừng

Rừng đầu nguồn bị tàn phá là một mối đe dọa nặng nề đối với dòng sông, nhất là ở vùng nhiệt đới. Ai cũng biết, mất rừng kéo theo xói mòn, rửa trôi mà hậu quả là nâng cao đáy các hồ đập, thay đổi địa mạo của lòng sông, chế độ thủy văn của sông và trong một số trường hợp, cả địa mạo của vùng.

Hồ Tonlé Sap là một ví dụ cụ thể. Do nạn phá rừng quanh hồ này trong những thập niên gần đây, đáy hồ mỗi năm được nâng lên từ 10 đến 12 cm, sức chứa của hồ giảm đi tương ứng. Chức năng trữ và điều tiết của hồ sẽ thay đổi khác với trước đây là điều sẽ xảy ra nếu không ngăn chặn được tình hình mất rừng hiện nay.

Để định lượng cụ thể tình trạng mất rừng, cần tính toán đầy đủ để được 1 MW thủy điện sẽ phải mất bao nhiêu ha rừng cho lòng hồ, cho nhà máy và hạ tầng cơ sở khác, và các hậu quả của sự mất mát này.

Một lãnh đạo của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Lâm Đồng, cho biết chỉ với 25 công trình thủy điện đã và đang được triển khai, tỉnh đã mất hơn 15000 ha rừng tự nhiên. Từ đó bài báo đưa ra con số để có 1MW điện phải mất ít nhất 10-16 ha rừng tự nhiên [2].

Con số này là bao nhiêu đối với 9 tỉnh khu vực miền Trung – Tây Nguyên (Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông và Lâm Đồng) nơi, theo số liệu của Bộ Công thương, đang có tới 393 dự án thủy điện với tổng công suất lắp máy khoảng 7381MW [3]. Tình trạng lũ lụt ở các tỉnh miền Trung trong những tuần gần đây có nguyên nhân của thời tiết, nhưng chắc chắn có nguyên nhân từ tình hình mất rừng.

Nói gắn kết là vì vậy. Để có đập phải mất rừng. Số đập dày đặc thì sẽ không còn rừng. Lòng hồ bị nâng đáy, công suất giảm so với thiết kế, lượng nước chảy về hồ nhanh gần như tức thì, tần suất xã lũ nhặt hơn, nhà dân và hạ tầng cơ sở bị phá hỏng.

Nếu đập nằm trên vùng bán sơn địa, ngoài mất rừng, còn mất nhiều diện tích đất nông nghiệp và nhiều hộ dân phải tái định cư.

Chuyển nước

Dòng sông sẽ suy yếu nghiêm trọng, thậm chí sẽ “chết” đi, nếu nó liên tục bị chích mất nước, giống như một cơ thể con người liên tục bị chích máu.

Những dự án chuyển nước từ lưu vực của một dòng sông sang lưu vực của một dòng sông khác, và kể cả trong cùng lưu vực, do vậy cần được tính toán, đánh giá các tác động kinh tế, xã hội, môi trường, và cụ thể những thay đổi đối với dòng sông, lưu vực, những mặt được – mất đối với các quốc gia có liên quan khi dòng sông chảy qua nhiều nước.

Từ thập niên 1980 – 1990, Thái Lan đã đề xuất hai dự án chuyển nước: dự án Kok – Ing – Yom – Nan ở vùng Bắc Thái Lan, và dự án Kong – Chi – Mun ở phía Đông Bắc Thái Lan.

Dự án Kok – Ing – Yom – Nan chuyển nước từ hai phụ lưu của sông Mekong, sông Kok và sông Ing, vào sông Yom và sông Nan, hai phụ lưu của sông Chao Praya, nhằm tăng thêm nguồn nước cho đập Sirikit và lượng nước tưới cho miền Trung Thái Lan. Đây là một dự án chuyển lưu vực và sẽ làm thất thoát nguồn nước sông Mekong.

Dự án Kong – Chi – Mun, không chuyển nước ra ngoài lưu vực, mà đưa nước từ sông Mekong vào các hồ chứa hiện có và mới sẽ xây thêm nhằm tưới cho 510000 rai đất nông nghiệp (tương đương 81600 ha) ở vùng Đông Bắc Thái Lan. Lượng nước mất đi và chất lượng nước trả lại cho dòng chính là những mối quan ngại đối với Lào và nhất là Campuchia và Việt Nam.

Chính vì hai dự án này mà Ủy ban lâm thời sông Mekong đã đi vào bế tắc và đã giải thể năm 1992.


Gây lo ngại lớn là dự án đồ sộ chuyển nước Nam – Bắc trên lãnh thổ Trung Quốc với ba tuyến chuyển Đông, Trung và Tây, dự kiến bổ sung 44,8 tỉ m3/năm nước từ sông Trường Giang sang sông Hoàng Hà, sau đó đưa đến Bắc Kinh, Thiên Tân.

Tuyến phía Đông đã được triển khai. Tuyến phía Tây bắt đầu triển khai năm 2010. Còn tuyến phía Tây? và trong 17 tỉ m3/năm từ tuyến này, có chuyển nước từ sông Mekong và sông Salween hay không? Thông tin có được rất ít và không rõ ràng.

Trong quy hoạch ban đầu vào cuối thập niên 1950 dự án định chuyển nước từ năm con sông Nu (Salween), Lancang (Mekong), Tongtian, Yalong, Dadu sang sông Hoàng Hà. Việc chuyển nước như vậy sẽ gây nhiều hậu quả về môi trường và về kinh tế xã hội to lớn cho các nước ở hạ lưu là Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam.

Sau đó phương án này không được công khai nhắc đến có thể vì liên quan đến các nước ở hạ lưu. Tuyến phía Tây được thể hiện rất đơn sơ trong hình dưới đây.

Có bao nhiêu đập đã, đang và sẽ được xây dựng trên sông Lancang (Mekong thượng nguồn)? Theo bản đồ của Ủy hội sông Mekong, có 7. Có tài liệu nói đến con số 14. Theo tài liệu đọc được trên mạng meltdownintibet.com thì số đập trên sông Lancang cao hơn nhiều và hầu hết đều đã và đang được xây dựng.




Có cơ sở để nghĩ rằng các thông tin về các đập trong bản đồ trên đây là xác thực, vì: (1) nó đúng với lô-gíc tích nước để chuyển nước; (2) còn có một bản đồ tiếng Trung trùng hợp với bản đồ này.



Như vậy: (1) thách thức từ các đập thủy điện đối với hạ lưu vực sông Mekong không phải chỉ đến từ 7 con đập. Nó còn sang một cấp độ khác vì nguồn nước có cơ bị thất thoát; (2) vấn đề chuyển nước sông Mekong trong dự án chuyển nước Nam-Bắc của Trung Quốc vẫn là thời sự, và đương nhiên là mối quan ngại hàng đầu đối với các quốc gia ở hạ lưu; (3) số đập và việc chuyển nước Mekong cần được làm sáng tỏ.
Phải chăng sự gần kề giữa sông Lancang và sông Jingsa-Yangtsé cùng lúc với mực nước dâng tích lại từ các đập xây dựng trên sông Lancang đã luôn âm ỉ nuôi dưỡng việc thực hiện ý tưởng chỉ đạo từ ban đầu đưa nước sông Lancang (và sông Nu) vào dự án chuyên nước Bắc Nam?
Sáu đề xuất và kiến nghị
1. Quy hoạch tổng thể phát triển vùng (hay lưu vực sông), các quy hoạch phát triển ngành (nông nghiệp, thủy sản, công nghiệp, du lịch, …) và tiểu vùng (hay quốc gia trong lưu vực) cần phải hài hòa với nhau. Hãy để dòng sông “sống” với vùng (lưu vực), với con người và phục vụ con người.
2. Ngăn chặn nạn phá rừng, nhất là rừng đầu nguồn là một nhiệm vụ bức xúc của các quốc gia trong lưu vực.
3. Lancang-Mekong là một con sông quốc tế. Các dự án chuyển nước phải được nghiên cứu một cách kỹ lưỡng và đầy đủ. Vấn đề xây dựng đập cũng vậy. Các báo cáo tác động môi trường cho toàn bộ lưu vực, trong thời gian dài là bắt buộc. Tốt nhất là đặt trong một quy hoạch tổng thể lưu vực sông.
4. Khai thác tài nguyên nước tại một quốc gia trong lưu vực phải đi đôi với trách nhiệm đối với tất cả các thay đổi trong toàn lưu vực do việc khai thác này gây ra. Quyền lợi của một nước trong lưu vực không thể tách rời quyền lợi của tất cả các nước khác cùng chia sẻ lưu vực.
Hợp tác để cùng phát triển bền vững giữa tất cả các nước trong lưu vực là cách ứng xử đúng đắn nhất.
5. Các số liệu khí tượng thủy văn trong lưu vực sông Lancang – Mekong phải được chia sẻ giữa các nước trong lưu vực. Chế độ vận hành của các đập cũng vậy. Những thông tin này là cần thiết cho việc quản lý các rủi ro trong toàn lưu vực.
6. Ủy ban quốc gia của Việt Nam trong Ủy hội sông Mekong, gắn trách nhiệm bảo vệ quyền lợi của đất nước, theo nguyên tắc Hợp tác để cùng phát triển bền vững, với nhiệm vụ báo cáo với Chính phủ và qua Chính phủ, báo cáo với Quốc hội, mặt khác thông cho rộng rãi các nhà khoa học các thông tin liên quan đến tài nguyên nước và việc sử dụng nó trong lưu vực sông Mekong, để được thêm sư hậu thuẩn cho tiếng nói của mình tại diễn đàn quốc tế.
 (Theo vncold.vn)



[1] Một cuộc Hội thảo Đối thoại chính sách: Phát triển đập thuỷ điện trên sông Mekong và thách thức đối với Việt Nam” với đại biểu Quốc hội Khóa XII vừa được Trung tâm Con người và Thiên nhiên và Mạng lưới Sông ngòi Việt Nam phối hợp tổ chức tại Hà Nội ngày 7.11.2010.
[2] Bài “1MW điện giá bao nhiêu?” Tuổi Trẻ cuối tuần, số ra ngày 05.10.2010.
[3] Báo cáo của Bộ Công thương gửi Thủ tướng Chính phủ tháng 3-2010 về kết quả rà soát các dự án thủy điện và việc vận hành các đập thủy điện.
Nguồn: Tổng cục Thủy Lợi,
Trung tâm Tư vấn và Chuyển giao Công nghệ Thủy Lợi
Sông Mekong: Thách thức từ mất rừng và chuyển nước
Video yêu thích 
http://www.youtube.com/user/hoangkimvietnam

Trở về trang chính

Hoàng Kim, hoangkim, hoangkimvietnam, Ngọc Phương NamChào ngày mới Thung dung, Dạy và học, Cây Lương thực, Tin Nông nghiệp Việt Nam, Food Crops, Cassava in Vietnam, Khát khao xanh, Dayvahoc, Học mỗi ngày,  Danh nhân Việt , Food Crops News, Điểm chính, CNM365, Kim LinkedIn, KimTwitter, KimFaceBook  Đọc lại và suy ngẫm, Việt Nam tổ quốc tôi, Tình yêu cuộc sống Thơ cho con

Không có nhận xét nào:

Lưu trữ

Dạy và học trực tuyến cây lúa



CÂY LƯƠNG THỰC. Mời các bạn tham gia lớp học trực tuyến Ngân hàng kiến thức trồng lúa (Vietnamese Rice Knowledge Bank) Trang tin điện tử về cây lúa của Viện Khoa học Nông nghiệp Việt Nam. Để tiết kiệm thời gian cho người học, chúng tôi đã tích hợp vào những trang FOOD CROPS, FOODCROPS.VN (Mời bạn bấm vào đây hoặc vào đây để đọc)

CÂY LÚA

CHƯƠNG TRÌNH HỌC TÍN CHỈ
(Biên soạn : TS. Hoàng Kim, 5 bài 1 tín chỉ )

I. Vị trí kinh tế của cây lúa
1.1 Vai trò của lúa gạo trên thế giới và Việt Nam
1.2 Thành phần dinh dưỡng và giá trị kinh tế của lúa gạo
1.3 Phân loại, nguồn gốc,vùng phân bố, lịch sử phát triển
1.4 Sản xuất, tiêu thụ lúa gạo trên thế giới và Việt Nam

II. Sinh học cây lúa
2.1 Đặc điểm thực vật học của cây lúa
(rễ, thân, lá, hoa, bông, hạt)
2.2 Các giai đoạn sinh trưởng phát triển của cây lúa
(nẩy mầm,/ mạ, đẻ nhánh, phát triển đốt thân, /
làm đòng, trổ bông, /làm hạt)
2.3 Đặc điểm sinh lý của ruộng lúa năng suất cao
2.3.1 Năng suất tối đa và dạng hình cây lúa lý tưởng
2.3.2 Quang hợp hô hấp, chế độ nước và mật độ trồng
2.3.3 Nhu cầu và dinh dưỡng khoáng của cây lúa
2.3.4.Những thiệt hại trên ruộng lúa nhiệt đới

III Khí hậu và đất lúa
3.1 Khí hậu: Ánh sáng, nhiệt độ, lượng mưa, nguồn nước
3.2. Đất lúa Việt Nam vùng phân bố và tính chất đất cơ bản
3.3 Những vùng trồng lúa và các vụ lúa chính ở Việt Nam
3.4 Quản lý dinh dưỡng cho lúa theo vùng đặc thù
3.5 Biểu hiện cây lúa thiếu chất dinh dưỡng và bị ngộ độc

IV Giống lúa và công nghệ sản xuất giống
4.1 Các giống lúa tốt phổ biến ở Việt Nam
4.2. Đặc điểm sinh lý và di truyền của cây lúa
4.3 Tiêu chuẩn ngành về khảo nghiệm DUS và VCU giống lúa
4.4 Quy trình công nghệ sản xuất hạt giống lúa lai

V. Kỹ thuật canh tác lúa
5.1 Mười biện pháp kỹ thuật chủ yếu canh tác lúa
5.2 Quy trình kỹ thuật sản xuất hạt giống lúa thuần
5.3 Quy trình kỹ thuật nhân dòng bố mẹ lúa lai.
5.4 Việt GAP lúa khái niệm, ý nghĩa và quy trình

Xem tiếp tại http://fooccrops.vn/

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO TỪ XA
(Biên soạn: PGS.TS. Nguyễn Văn Tuất)

Cây lúa và sự phát triển
1. Tổng quan về cây lúa
2. Các thời kỳ và giai đoạn phát triển của cây lúa
3. Sự khác nhau giữa các giai đoạn phát triển của cây lúa
4. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa
5. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ mạ
6. Thời kỳ sinh trưởng sinh dưỡng của cây lúa: Thời kỳ đẻ nhánh
7. Thời kỳ sinh trưởng sinh thực của cây lúa
8. Thời kỳ chín

Hạt giống
9. Hạt giống lúa
10. Các bộ phận của hạt giống lúa
11. Quá trình nảy mầm
12. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nước
13. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Không khí
14. Các điều kiện cần thiết cho sự nảy mầm: Nhiệt độ
15. Vì sao phải ủ hạt giống
16. Vì sao phải chọn hạt giống tốt

Sự phát triển của cây mạ
17. Nguồn chất dinh dưỡng cung cấp cho sự phát triển của cây mạ
18. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: độ sâu của nước
19. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: lượng nước
20. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: nhiệt độ
21. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: cường độ ánh sáng
22. Nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển của cây mạ: những chất dinh dưỡng dễ sử dụng
23. Cây mạ tốt có chiều cao cây phát triển đồng đều
24. Cây mạ tốt có bẹ lá ngắn
25. Cây mạ tốt phải không có sâu bệnh
26. Cây mạ tốt phải có nhiều rễ và khối lượng lớn

Cấy lúa
27. Vì sao phải cấy
28. Cấy bao nhiêu dảnh mạ trên một khóm
29. Vì sao phải cấy ở độ sâu thích hợp
30. Xén bớt lá mạ trước khi cấy nên hay không nên

Các bộ phận của cây lúa
31. Lá lúa
32. Thân lúa và sự tạo lóng
33. Rễ lúa
34. Nhánh lúa
35. Những yếu tố ảnh hưởng đến đẻ nhánh
36. Hoa lúa và sự thụ phấn, thụ tinh
37. Bông lúa và các giai đoạn hình thành hạt

Phân bón
38. Phân bón và bón phân cho cây lúa
39. Nhu cầu dinh dưỡng của cây lúa và vai trò của phân bón
40. Phân bón hữu cơ
41. Phân bón vô cơ
42. Phân đạm và hiệu suất phân đạm
43. Phân đạm và mùa vụ
44. Phân đạm và cách sử dụng để tăng hiệu quả
45. Phân đạm và cách bón đạm để tăng hiệu quả
46. Phân lân và hiệu suất phân lân
47. Phân kali và hiệu suất phân kali

Các yếu tố ảnh hưởng đến năng suất lúa
48. Nước và đời sống cây lúa
49. Nhiệt độ và đời sống cây lúa
50. Ánh sáng và đời sống cây lúa
51. Các giai đoạn phát triển và yếu tố cấu thành năng suất

Côn trùng hại lúa
52. Sâu đục thân lúa 2 chấm
53. Sâu đục thân 5 vạch đầu nâu
53 Sâu đục thân 5 vạch đầu đen
55. Sâu đục thân bướm cú mèo
56. Sâu cuốn lá nhỏ
57. Sâu cuốn lá lớn
58. Sâu gai
59. Rầy nâu
60. Rầy lưng trắng
61. Sâu cắn gié
62. Sâu năn
63. Sâu phao
64. Châu chấu
65. Bọ trĩ
66. Bọ xít dài
67. Bọ xít xanh
68. Bọ xít đen

Bệnh hại lúa
69. Bệnh đạo ôn
70. Bệnh khô vằn
71. Bệnh hoa cúc
72. Bệnh vàng lụi
73. Bệnh vàng lún và lùn xoắn lá
74. Bệnh bạc lá
75. Bệnh lúa von
76. Bệnh thối bẹ
77. Bệnh đốm nâu
78. Bệnh cháy bìa lá
79. Bệnh lem lép hạt